Cổng thông tin điện tử
Đảng Cộng sản Việt Nam
Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Phiên trù bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của ĐảngMới Thủ đô Hà Nội với sứ mệnh tiên phong, sẵn sàng hiện thực hóa tầm nhìn Đại hội lần thứ XIV của ĐảngMới Ảnh: Phiên trù bị Đại hội XIV của ĐảngMới Một số nội dung quan trọng tại Đại hội lần thứ XIV của ĐảngMới Lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự phiên họp trù bị Đại hội XIV của ĐảngMới Các đại biểu dự Đại hội XIV vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩMới Bí thư Tỉnh ủy Phan Thăng An: Quyết tâm xây dựng Cao Bằng trở thành tỉnh năng động, phát triển nhanh và bền vữngMới Đồng Nai hướng tới Đại hội XIV của Đảng với niềm tin, khát vọng và quyết tâm hành độngMới Việt Nam nhận lời mời tham gia Hội đồng Hòa bình Dải GazaMới Thủ tướng: Ngoại giao kinh tế chuyển mình mạnh mẽ vì sự phát triển hùng cường của dân tộcMới Điện mừng kỷ niệm 76 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Trung QuốcMới Tổng Bí thư Tô Lâm dự Lễ Khởi công Dự án Khu phức hợp y tế - chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Đại học Y Hà NộiMới Đại hội Đảng XIV: Kỳ vọng một sự chuyển mình mạnh mẽ đồng bộ trên nhiều bình diệnMới Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân trong tình hình mớiMới Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá XI về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030Mới Chủ tịch nước Lương Cường trao quyết định bổ nhiệm Đại sứ Việt Nam tại nước ngoàiMới Thủ tướng: Chiến dịch Quang Trung thần tốc từng ngày, từng giờ để mang lại niềm vui, hạnh phúc cho nhân dân Tổng Bí thư, Thủ tướng Chính phủ ấn nút khởi công nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam Kết luận của Ban Bí thư về xử lý các trường hợp sai phạm còn tồn tại trong công tác cán bộ Quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Ứng dụng công nghệ trong quản lý các khu bảo tồn biển

Đến năm 2030, Việt Nam có 27 khu bảo tồn biển, trong đó có 16 khu bảo tồn biển cấp quốc gia, 11 cấp tỉnh với khoảng 20 hệ sinh thái, 11.000 loại thủy sản, khoảng 3.000 đảo. Đây là địa điểm lý tưởng để thực hiện nhiệm vụ lưu giữ, bảo tồn giống, nguồn gen, đa dạng sinh học; phát triển kinh tế, du lịch; phục vụ nghiên cứu khoa học…

Ứng dụng khoa học, công nghệ là giải pháp hiệu quả để quản lý, bảo vệ tài nguyên biển.


Công nghệ số mở ra cách tiếp cận mới trong bảo tồn biển

Đối với các quốc gia biển, các khu bảo tồn biển có vai trò đặc biệt quan trọng cho phát triển bền vững, nhằm giúp phục hồi nguồn lợi thủy sản, nhất là các loài có giá trị kinh tế cao, các loài quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng, các loài đặc hữu. Từ nhiều năm trước, một số quốc gia biển đã triển khai nhiều giải pháp tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, bảo tồn và tái tạo các khu bảo tồn biển hiện có; Thành lập mới và tăng quy mô, diện tích các khu bảo tồn biển có giá trị cao; Xác định các khu vực cấm khai thác hoặc hạn chế khai thác các loài thủy sản; Gắn nhiệm vụ bảo tồn với phát triển kinh tế và du lịch biển.

Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, nhiệm vụ quản lý, bảo tồn các khu bảo tồn biển ngày càng trở nên hiệu quả. Trên thế giới, các công nghệ thường được ứng dụng là GIS (công cụ máy tính dùng cho lập bản đồ và phân tích), viễn thám, IoT (Internet vạn vật), cảm biến môi trường, AI (trí tuệ nhân tạo), phân tích Big Data (dữ liệu lớn), drone và camera giám sát các khu vực biển. Những công nghệ này được sử dụng để giám sát, theo dõi tổng thể và cá biệt các vùng biển, các loài thủy sản, các điểm “được đánh dấu” theo thời gian thực; hỗ trợ ra quyết định; tăng tính minh bạch và hiệu quả hành động.

Tại Việt Nam, năm 2024, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1539/ QĐ-TTg ngày 10/12/2024 phê duyệt Đề án mở rộng, thành lập mới các khu bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản và phục hồi hệ sinh thái đến năm 2030. Theo đó, tổng diện tích biển được khoanh vùng khoảng 442ha (0,44% diện tích tự nhiên biển Việt Nam). Bên cạnh việc mở rộng, phục hồi các khu bảo tồn biển hiện có, Đề án cũng đặt mục tiêu quản lý, bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở một số vùng biển tại một số thời điểm (tổng diện tích khoảng 6% diện tích vùng biển).

Tình trạng ô nhiễm môi trường biển, biến đổi khí hậu, nhiệt độ tăng, khai thác bừa bãi, xâm hại của các loài thủy sản ngoại lai, các hoạt động kinh tế, du lịch không được kiểm soát tốt… khiến cho yêu cầu quản lý, bảo vệ các khu bảo tồn biển tại Việt Nam ngày càng trở nên cấp thiết. Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Hồng Hải nhấn mạnh: phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ biển là một trong những khâu đột phá chiến lược được xác định tại Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Việc chuyển dịch từ mô hình khai thác tài nguyên truyền thống sang kinh tế biển xanh, tuần hoàn không thể thành công nếu thiếu các công nghệ mũi nhọn và tư duy quản lý hiện đại. Năm 2023, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành liên quan và địa phương triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ nhằm quản lý hiệu quả các khu bảo tồn biển. Đồng thời, ban hành Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản trên 59 khu vực bảo vệ và 63 khu vực hạn chế khai thác nhằm bảo vệ nguồn lợi, khu tập trung sinh sản và đang sinh trưởng chưa đến thời gian khai thác…

Cần chiến lược tổng thể

Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, nhưng với nhiều khu bảo tồn biển rộng lớn, việc quản lý, bảo tồn các khu vực này còn nhiều hạn chế, bất cập. Tình trạng khai thác, đánh bắt thủy sản trái phép còn diễn ra khá phổ biến; các hoạt động kinh tế, du lịch xâm phạm an toàn và gây hại đến môi trường biển, môi trường sống của các loài sinh vật biển; diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu toàn cầu; rác thải nhựa đại dương… đang đe dọa an toàn của các loài sinh vật tại khu bảo tồn biển Việt Nam.

Tại Quyết định số 1539, Chính phủ đã đề ra các nhóm giải pháp chính nhằm thực hiện có hiệu quả trong quản lý, bảo vệ tại các khu bảo tồn biển. Trong đó có nhóm giải pháp ưu tiên đầu tư, triển khai các ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý, bảo tồn, bảo vệ hệ sinh thái biển; phục hồi các hệ sinh thái suy thoái; ngăn chặn các nguy cơ gây hại cho sinh vật trong khu bảo tồn biển. Tuy vậy, nhóm giải pháp này chưa được triển khai có hiệu quả.

Tiến sĩ Phạm Thị Thùy Linh, Viện Khoa học môi trường Biển và Hải đảo (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, việc quản lý các khu bảo tồn biển chưa mang lại hiệu quả như mong muốn có một phần nguyên nhân từ thiếu áp dụng các giải pháp công nghệ. Nghiên cứu cho thấy, chưa có nhiều khu bảo tồn biển ứng dụng các công nghệ mới vào công tác quản lý. Một số nơi đã áp dụng thì thiếu đồng bộ, thực hiện phân tán, không đồng đều, thiếu sự kết nối và cơ chế kiểm soát… Nguyên nhân do đầu tư thiếu đồng bộ, chưa tập trung, thiếu nguồn vốn và cơ chế phối hợp giữa các ngành liên quan, thiếu công nghệ chiến lược, thiếu nhân lực chất lượng cao cũng như sự chỉ đạo đồng nhất và chiến lược đầu tư tổng thể từ Trung ương đến địa phương.

Như vậy, song song với các giải pháp về cơ chế, chính sách, nhân lực, cơ chế phối hợp, chỉ đạo để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ quản lý, bảo tồn các khu bảo tồn biển cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về ứng dụng khoa học, công nghệ. Tiến sĩ Phạm Thị Thùy Linh đề xuất, các khu bảo tồn biển hiện nay cần thực hiện các giải pháp cụ thể về ứng dụng khoa học, công nghệ trong công tác quản lý, bảo tồn; xây dựng chiến lược chuyển đổi số; đầu tư công nghệ lõi, đào tạo nhân lực chất lượng cao; xây dựng chuẩn dữ liệu quốc gia, cơ chế phối hợp, liên thông, chia sẻ dữ liệu, cảnh báo nguy cơ. Bên cạnh đó, cơ quan chức năng cần xây dựng cơ chế cho phép các khu bảo tồn biển tăng cường hợp tác công-tư, hợp tác quốc tế, xây dựng liên kết khoa học-kinh tế-cộng đồng trong hoạt động của các khu vực này.

Quản lý, bảo tồn, bảo vệ, phục hồi đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn biển là một trong các giải pháp của kinh tế xanh, của phát triển bền vững không chỉ của Việt Nam mà là mục tiêu chung của các quốc gia biển. Hiệu quả mà một số quốc gia phát triển như: Nhật Bản, Na Uy, Phần Lan, Anh, Hoa Kỳ, Canada… có được, có vai trò không nhỏ của việc ứng dụng khoa học, công nghệ. Điều đó cho thấy sự cần thiết phải xây dựng và thực hiện “chiến lược” tổng thể về khoa học, công nghệ đối với các khu bảo tồn biển tại nước ta hiện nay.


TRẦN THƯỜNG/NDO
Bình luận

Các tin khác

Tin đọc nhiều