Đầu tư đồng bộ, bài bản để khoa học và công nghệ trở thành trụ cột phát triển
(ĐCSVN)- Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, khoa học và công nghệ không chỉ là đòn bẩy mà còn được xác định là trụ cột then chốt, tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, với vai trò là cơ quan nghiên cứu hàng đầu cả nước, đã và đang khẳng định vị thế chủ lực trong việc đưa các công trình từ phòng thí nghiệm ra phục vụ trực tiếp đời sống và sản xuất.
Để hiểu rõ hơn về hành trình đưa tri thức khoa học thành giá trị thực tiễn, Cổng Thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đã có cuộc trò chuyện với GS.TS. Chu Hoàng Hà – Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ (KH-CN) Việt Nam.
PV: Thưa đồng chí, có thể nói Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là "cánh chim đầu đàn" trong nghiên cứu cơ bản và ứng dụng. Trong thời gian qua, Viện đã triển khai nhiều chương trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn rất cao. Đồng chí có thể chia sẻ cụ thể hơn về một số mô hình, công nghệ tiêu biểu đã được ứng dụng hiệu quả, góp phần trực tiếp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước?
GS.TS Chu Hoàng Hà: Đây là một câu hỏi rất lớn. Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam được thành lập tiền thân là Viện Khoa học Việt Nam từ năm 1975 . Trong suốt quá trình phát triển của mình thì với chức năng, nhiệm vụ là nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu phát triển công nghệ và triển khai ứng dụng công nghệ cũng như đào tạo nhân lực chất lượng cao cho đất nước thì đã có rất nhiều những đóng góp trong các lĩnh vực khác nhau. Có thể kể ra một số những đóng góp tiêu biểu qua các giai đoạn, thời kỳ.
Ví dụ như trong các giai đoạn trước có những công trình nghiên cứu trong lĩnh vực về khoa học trái đất, quy hoạch lãnh thổ đã giúp cho việc tổ chức thoát lũ ở khu vực miền Tây, qua đó góp phần cải tạo những vùng trũng cho Đồng bằng sông Cửu Long như khu vực Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên để từ đó có thể hình thành vựa lúa lớn của cả nước như ngày nay. Rồi có những công trình liên quan đến nghiên cứu về quy hoạch hệ thống cảng biển của Việt Nam, giúp cho Việt Nam định hình mạng lưới cảng biển quốc gia tương đối đồng bộ, hiện đại, trong đó có việc hình thành các cảng nước sâu ở khu vực miền Trung như Dung Quất, Chân Mây,...
Hay như công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực cảnh báo động đất, sóng thần. Hiện nay, Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam được Chính phủ giao vận hành Trung tâm Báo tin động đất và cảnh báo sóng thần, hoạt động 24/7, bảo đảm cung cấp thông tin kịp thời, góp phần giảm thiểu rủi ro. Dẫn chứng như khi chúng ta gặp vấn đề về xây dựng thủy điện Sông Tranh gây ra các kích ứng động đất thì thông qua các nghiên cứu khoa học chuyên sâu đã cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn, từ đó xác định động đất mà do kích ứng của thủy điện đó không gây nguy hiểm đến mức phải loại bỏ công trình thủy điện, giúp tiết kiệm cho Nhà nước, cũng tạo cơ sở khoa học để người dân yên tâm, có thể tiếp tục khai thác thủy điện Sông Tranh.
Có thể kể đến, công trình khoa học kỹ thuật đặc biệt, được trao Giải thưởng Trần Đại Nghĩa năm 2025 là công nghệ "Hồ treo thu trữ nước vách núi", giúp giải quyết cơn khát nước sinh hoạt và sản xuất cho người dân vùng cao nguyên đá Đồng Văn, Hà Giang. Công nghệ hồ treo đã được triển khai thực tế tại nhiều điểm vùng cao của tỉnh Hà Giang và chứng minh hiệu quả rõ rệt, góp phần cải thiện sinh kế cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.

Còn lĩnh vực về sinh học, công nghệ sinh học chẳng hạn thì cũng có rất nhiều những cái công trình đã được ứng dụng trong đời sống. Điển hình các nghiên cứu của Viện Công nghệ sinh học về ứng dụng công nghệ giám định ADN trong định danh hài cốt liệt sĩ đã và đang tạo ra cơ sở khoa học quan trọng cho công tác tri ân, đền ơn đáp nghĩa. Các nhà khoa học của viện cũng tham gia nghiên cứu và phát triển công nghệ sản xuất vaccine cúm gia cầm A/H5N1 tại Việt Nam, giúp cho Việt Nam tự chủ trong sản xuất vắc xin phòng chống dịch bệnh. Công trình này cũng được trao giải thưởng Trần Đại Nghĩa năm 2019.
Hay việc ứng dụng công nghệ trong giải độc đất ô nhiễm dioxin trong chiến tranh cũng bằng các công nghệ phân hủy sinh học thì cũng đã xây dựng các quy trình hiện nay cũng đang áp dụng cùng với Bộ Quốc phòng để thực hiện một số điểm nóng các sân bay cũ trong chiến tranh mà quân đội Mỹ sử dụng, giúp tẩy độc, và có thể tiếp tục được sử dụng. Hoặc các công nghệ về xử lý ô nhiễm dầu bằng công nghệ sinh học hoặc là các hệ thống thiết bị để mà xử lý ô nhiễm rác, rác thải rắn và của các bệnh viện hoặc là một số nhà máy sản xuất cũng đã được áp dụng rất nhiều góp phần giảm ô nhiễm môi trường cũng như vấn đề an toàn sinh học trong bệnh viện.
Viện cũng tham gia trực tiếp nghiên cứu và xác định nguyên nhân các vụ việc gây ô nhiễm môi trường nổi cộm như sự cố môi trường biển do Công ty Formosa gây ra vào tháng 4/2016, vụ nhận chìm bùn nạo vét của nhà máy Nhiệt Điện Vĩnh Tân xuống biển, sự cố cá chết Hồ Tây vào tháng 10/2016, sự cố cháy kho chứa hàng của công ty Cồ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông vào tháng 8/2019,…
Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu gần đây đã được ứng dụng trực tiếp vào thực tiễn, tiêu biểu như các nghiên cứu về vật liệu phủ có khả năng chống cháy, để sản xuất sơn chống cháy. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, các Viện đã phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp để phát triển và thương mại hóa sản phẩm sơn chống cháy, hiện đã được đưa vào sử dụng tại công trình rất nổi tiếng Việt Nam thời gian qua đó là tòa nhà triển lãm Kim Quy. Có thể khẳng định, từ những kết quả nghiên cứu cụ thể này cho thấy khoa học và công nghệ không chỉ dừng lại ở phòng thí nghiệm mà đã và đang thâm nhập sâu vào đời sống, tạo ra nhiều sản phẩm, công nghệ có giá trị thực tiễn cao, góp phần phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Triển khai nhiều chính sách nhằm thúc đẩy quá trình chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu
PV: Có thể thấy, những con số và mô hình mà đồng chí vừa chia sẻ đã minh chứng rất rõ ràng cho năng lực sáng tạo của các nhà khoa học Việt Nam. Tuy nhiên, một bài toán luôn được đặt ra là làm sao để "khoảng cách" từ phòng thí nghiệm đến thị trường ngày càng ngắn lại. Vậy thưa đồng chí, Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam đang triển khai những giải pháp gì để thúc đẩy chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, thưa đồng chí?
GS.TS Chu Hoàng Hà: Thực ra thì đối với Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam cũng như đối với các nhà khoa học thì từ khi thành lập đến nay thì cũng luôn luôn có suy nghĩ về việc khoa học là phải phục vụ cuộc sống. Bản thân Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa - Viện trưởng sáng lập của Viện Khoa học Việt Nam là một nhà khoa học xuất sắc và đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ứng dụng thực tiễn. Trong số đó phải kể đến các công trình của Giáo sư đã giúp chế tạo ra các vũ khí giúp cho Việt Nam có thể chiến thắng trong cuộc chiến tranh và giành độc lập. Do đó, chúng ta thấy việc thành lập Viện Khoa học Việt Nam và sau này là Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam là để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ đời sống xã hội, và việc đó cũng luôn là mục đích, mục tiêu của Ban lãnh đạo Viện Hàn lâm. Từ giai đoạn rất sớm cuối những năm 80, 90 khi đó Viện Khoa học Việt Nam đã xin Chính phủ được thành lập các đơn vị tự chủ, đó là các doanh nghiệp khoa học, công nghệ, phải đến gần trăm đơn vị. Trong số đó có nhiều đơn vị khá thành công, như Công ty Cổ phần FPT chẳng hạn thì trước đây cũng là một doanh nghiệp có xuất phát từ Viện Cơ học thuộc Viện Khoa học Việt Nam lúc đó và bây giờ là Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam; hay như Tập đoàn DOJI chẳng hạn thì lúc đó thì ông chủ của Tập đoàn DOJI thì cũng là đứng đầu một đơn vị ứng dụng mà của Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam và liên quan đến lĩnh vực đá quý thời kỳ đó.
Thực tiễn cho thấy, ở từng giai đoạn khác nhau, do tác động của cơ chế, chính sách, không phải đơn vị nào cũng duy trì được sự phát triển bền vững, có những đơn vị khởi nghiệp thành công mà chúng ta đã thấy, nhưng cũng có rất nhiều đơn vị thì thành công ở mức độ nhất định mà sau này không còn hoạt động. Từ đó có thể khẳng định, vai trò của cơ chế, chính sách là yếu tố rất quan trọng, mang tính quyết định đối với sự phát triển của các tổ chức khoa học và công nghệ. Nhận thức rõ điều này, trong giai đoạn gần đây, Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam đã chủ động hoàn thiện và triển khai nhiều chính sách nhằm thúc đẩy quá trình chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Theo đó, Viện tập trung khuyến khích các nhà khoa học đẩy mạnh nghiên cứu gắn với phát triển công nghệ, coi đây là khâu then chốt. Các kết quả nghiên cứu, công nghệ mới được chú trọng đăng ký sở hữu trí tuệ theo thông lệ quốc tế, qua đó tạo cơ sở pháp lý và thương mại để giới thiệu, chuyển giao cho doanh nghiệp tiếp tục đầu tư, phát triển và đưa vào sản xuất, kinh doanh. Nếu Viện Hàn lâm cứ phát triển theo hướng các đơn vị nghiên cứu trực tiếp thành lập các doanh nghiệp, về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến tổ chức nghiên cứu của Viện. Thậm chí, trong trường hợp doanh nghiệp thành công, các đơn vị này có xu hướng tách ra hoạt động theo mô hình doanh nghiệp thuần túy, làm suy giảm vai trò của viện nghiên cứu. Các nhà khoa học khi đó có thể không còn là nhà khoa học, mà trở thành các doanh nhân hoặc là các nhà quản lý công nghệ trong doanh nghiệp. Tất nhiên việc đấy thì cũng tốt cho xã hội. Tuy nhiên, nếu đi theo hướng này một cách thiếu kiểm soát, chúng ta có thể đối mặt với nguy cơ suy giảm nguồn nhân lực khoa học, đặc biệt là tại các tổ chức nghiên cứu đầu ngành như Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam.

Vì vậy, chủ trương nhất quán là thúc đẩy phát triển công nghệ theo hướng tạo ra các “sản phẩm tri thức” – những kết quả nghiên cứu có thể trở thành nguồn hàng hóa cung cấp cho thị trường. Thực tế cho thấy, trong năm vừa qua, Viện Hàn lâm đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp 105 văn bằng bảo hộ, bao gồm sáng chế và giải pháp hữu ích. Đó là những nguồn hàng hóa công nghệ cung cấp cho thị trường để giới thiệu, chuyển giao cho doanh nghiệp tiêu thụ, phát triển.
Song song với đó, Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam đã triển khai các chương trình nghiên cứu theo định hướng thị trường và ứng dụng, nhằm rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và thực tiễn. Ví dụ phát triển các nhiệm vụ khoa học theo hướng tạo ra công nghệ có khả năng ứng dụng cao, trong đó yêu cầu bắt buộc là các kết quả nghiên cứu phải được đăng ký sở hữu trí tuệ. Trên nền tảng đó, các đề tài sản xuất thử nghiệm để giới thiệu với thị trường, giới thiệu với doanh nghiệp. Đặc biệt, Viện Hàn lâm cũng đẩy mạnh nhiều dạng hợp tác với bộ, ngành, địa phương. Cho đến nay, Viện Hàn lâm đã ký hợp tác khoa học và công nghệ với hơn 50 bộ, ngành, địa phương và tập đoàn công nghiệp. Đây là khung cơ sở cho các đơn vị, các nhà khoa học trực thuộc Viện Hàn lâm triển khai kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ vào thực tế tại bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, sự ra đời của Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cũng như các Nghị quyết của Chính phủ về hướng phát triển công nghệ chiến lược… thì Viện Hàn lâm đã chủ động, tích cực tăng cường công tác đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đó, Viện Hàn lâm tập trung tái cơ cấu các chương trình nghiên cứu theo hướng gắn với các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn. Các công nghệ được tạo ra không chỉ dừng lại ở kết quả nghiên cứu, mà phải từng bước hoàn thiện theo các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là yêu cầu về đăng ký và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Đây là yếu tố then chốt nhằm bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp, hạn chế tranh chấp trong quá trình khai thác, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ về sau.
.jpg)
Việt Nam phải từng bước làm chủ và sáng tạo công nghệ của chính mình
PV: Từ thực tiễn của bản thân, theo đồng chí những lĩnh vực khoa học công nghệ nào đang còn nhiều dư địa để tạo ra những đột phá, qua đó góp phần quan trọng vào việc triển khai hiệu quả và hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết 57-NQ/TW?
GS.TS Chu Hoàng Hà: Chúng ta có 11 các nhóm công nghệ chiến lược được Thủ tướng Chính phủ ban hành vào tháng 6/2025 nhằm thúc đẩy tự chủ công nghệ, bao gồm các lĩnh vực trọng điểm như trí tuệ nhân tạo (AI), chip bán dẫn, dữ liệu lớn, robot và tự động hóa.
Trước hết, trong lĩnh vực năng lượng, bên cạnh các nguồn năng lượng truyền thống hay là năng lượng tái tạo, thì năng lượng hạt nhân vẫn là một trụ cột quan trọng, có khả năng cung cấp nguồn điện ổn định, quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của nền kinh tế. Hay như các lĩnh vực liên quan đến công nghệ sinh học liên quan đến ứng dụng trong nông nghiệp, môi trường, đặc biệt là y tế. Các nhóm công nghệ tiên tiến như công nghệ chỉnh sửa gen có thể áp dụng để phát triển giống cây trồng, vật nuôi trong chữa trị liệu pháp gen hoặc là các nhóm công nghệ tế bào mà chúng ta nghe nói đến như tế bào gốc, các tế bào miễn dịch để chữa các bệnh hiểm nghèo như ung thư, tiểu đường và nhiều bệnh hiếm… Hay các lĩnh vực liên quan đến công nghệ vật liệu mới góp phần nâng cao năng lực sản xuất quốc gia. Một lĩnh vực nữa cũng có thể tạo ra đột phá cho Việt Nam đó là công nghệ mạng di động thế hệ sau (5G/6G); các công nghệ hàng không, vũ trụ, thiết bị bay không người lái, tự động hóa robot… đang trở thành những động lực tăng trưởng mới, không chỉ nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia mà còn có tiềm năng tạo ra những bước đột phá chiến lược, đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Và còn rất nhiều lĩnh vực mà Việt Nam còn dư địa để mà có thể phát triển.
Muốn phát triển nhanh và bền vững, Việt Nam không thể chỉ đi sau công nghệ của thế giới, mà phải từng bước làm chủ và sáng tạo công nghệ của chính mình. Trong quá trình đó, các viện nghiên cứu, đặc biệt là Viện Hàn lâm KH-CN Việt Nam, có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển khoa học cơ bản, làm chủ các công nghệ nền tảng và tạo ra các tri thức mới phục vụ phát triển đất nước. Chúng tôi luôn xác định rằng Viện Hàn lâm phải đi trước một bước trong nghiên cứu, từ đó góp phần hình thành những nền tảng công nghệ cho các ngành công nghiệp chiến lược của Việt Nam trong thời gian tới.

Cần có cơ chế chia sẻ rủi ro trong nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo
PV: Để khoa học – công nghệ thực sự trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước nhanh và bền vững, đồng chí có những đề xuất hay kiến nghị gì về cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ những "nút thắt" hiện tại, tạo hành lang thông thoáng hơn cho các nhà khoa học cống hiến và phục vụ nhân dân?
GS.TS Chu Hoàng Hà: Về vấn đề này, tôi nghĩ rằng là với sự ra đời Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là một đột phá rất lớn, đó là thể hiện sự quan tâm của Đảng đến lĩnh vực phát triển khoa học, công nghệ, trong đó đã xác lập khoa học, công nghệ là nhân tố then chốt, giữ vai trò quyết định trong việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam theo hướng dựa trên tri thức và giá trị gia tăng cao, trong giai đoạn quan trong để đất nước bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành nước công nghiệp phát triển.
Đồng thời, trong thời gian qua, hệ thống pháp luật liên quan đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cũng đã có nhiều điều chỉnh, hoàn thiện trong Luật, như Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi, Luật Sở hữu trí tuệ… Những sửa đổi, bổ sung này đã từng bước tạo lập hành lang pháp lý đồng bộ, và có các cơ chế chính sách khá rõ ràng để tạo điều kiện cho khoa học, công nghệ trong nước phát triển. Tuy nhiên, để những chính sách lớn của Đảng cũng như các Luật đó đi vào cuộc sống thực tiễn thì cần nhiều hướng dẫn chi tiết để thực hiện và cũng đã tạo ra độ trễ nhất định.
Là một quốc gia đi sau, Việt Nam cần chủ động học hỏi, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là các thông lệ tiên tiến về quản lý khoa học và công nghệ của các nước phát triển đã thành công. Khoa học nó là một lĩnh vực mà tương đối đặc thù, nó có thể xem như một lĩnh vực đầu tư mạo hiểm. Chúng ta không thể quản lý khoa học như quản lý một công trình xây dựng hoặc là một lĩnh vực mà nó đã có các tiêu chuẩn kỹ thuật rất rõ rồi.
Chúng ta cần nhìn nhận lợi ích một cách tổng thể việc ứng dụng rộng rãi khoa học công nghệ không chỉ tạo ra giá trị cho xã hội mà còn góp phần mở rộng nguồn thu cho Nhà nước thông qua thuế từ doanh nghiệp, hơn là chúng ta đánh giá một công trình khoa học sau đấy tạo ra một công nghệ và rồi công nghệ đó bán được bao nhiêu tiền. Chúng ta không nên chỉ tập trung vào những lợi ích ngắn, trước mắt mà cần phải có tầm nhìn dài hạn. Bởi vì công tác nghiên cứu khoa học nhiều khi khó đoán định trước và có tính rủi ro. Ví dụ chúng ta có thể đầu tư 100 đề tài nghiên cứu. Tuy nhiên, trong số 100 đề tài đấy có thể 99 đề tài không đem lại lợi ích nhiều, nhưng có khi 1 cái đề tài đem lại lợi ích gấp 10 lần đầu tư cho 100 đề tài nghiên cứu đó. Chúng ta không thể chẻ ra đánh giá từng dự án đề tài vì như vậy sẽ không đánh giá một cách khách quan được đóng góp của khoa học công nghệ.
Hơn nữa, để khoa học và công nghệ phát triển, cần có sự đầu tư đồng bộ và bài bản. Điều đó không chỉ dừng ở việc xây dựng các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu, cơ sở thử nghiệm và sản xuất thử nghiệm, mà còn bao gồm cả việc đào tạo, phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao. Đây là một quá trình gồm nhiều khâu liên kết chặt chẽ, tạo nên cả một hệ sinh thái hoàn chỉnh.
Tăng quyền tự chủ thực chất cho các tổ chức khoa học và nhà khoa học, đặc biệt trong việc sử dụng kinh phí nghiên cứu. Cách quản lý nên chuyển mạnh từ kiểm soát thủ tục sang đánh giá theo kết quả đầu ra. Cần có cơ chế chia sẻ rủi ro trong nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu luôn có yếu tố thử nghiệm, vì vậy cần có cách tiếp cận linh hoạt hơn để khuyến khích các ý tưởng mới. Việc phát triển thị trường khoa học và công nghệ cũng rất quan trọng. Các mô hình thử nghiệm chính sách như sandbox công nghệ có thể tạo điều kiện để các công nghệ mới được thử nghiệm và ứng dụng nhanh hơn trong thực tế. Đầu tư cho nghiên cứu khoa học cơ bản và hạ tầng nghiên cứu hiện đại vẫn là nền tảng quan trọng để hình thành và phát triển các công nghệ chiến lược của quốc gia.
Các chiến lược, chính sách lớn của Đảng và Chính phủ đã được xác định rõ. Vấn đề còn lại là tổ chức triển khai hiệu quả vào từng nhiệm vụ cụ thể. Hi vọng trong thời gian tới, với những chiến lược, chính sách lớn như vậy nếu làm tốt từng việc cụ thể thì khoa học và công nghệ sẽ có những đóng góp thiết thực, mạnh mẽ cho sự phát triển của đất nước.
PV: Xin trân trọng cảm ơn GS.TS Chu Hoàng Hà!



