Cổng thông tin điện tử
Đảng Cộng sản Việt Nam
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Chủ tịch Quốc hội: Ưu đãi đầu tư phải trọng tâm, gắn với kết quả thực hiện cam kết, không chỉ dựa vào cam kết ban đầu

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh, việc sửa đổi Luật Đầu tư phải đẩy mạnh phân cấp, phân quyền nhưng bảo đảm đúng thẩm quyền; quy định rõ tiêu chí ưu đãi đầu tư gắn với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư; tăng cường giám sát, hậu kiểm và thu hồi ưu đãi, đồng thời bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và phù hợp với các cam kết quốc tế.

Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh: Chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt phải có tiêu chí cụ thể, đo lường được hiệu quả thực chất, nhất là về tỷ lệ nội địa hóa, chuyển giao công nghệ, tác động lan tỏa và đóng góp nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Tham gia thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư (sửa đổi), các đại biểu Tổ 2- Đoàn ĐBQH thành phố Hồ Chí Minh đánh giá cao nỗ lực của cơ quan trình trong việc thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng nhằm thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao, phát triển các ngành công nghiệp chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu lớn và các trung tâm đổi mới sáng tạo.

Phát biểu tại Tổ, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho rằng yêu cầu đặt ra với sửa đổi Luật Đầu tư lần này cần quán triệt ba yêu cầu quan trọng: “Tạo thuận lợi tối đa cho nhà đầu tư hợp pháp nhưng không nới lỏng kỷ cương pháp luật; tăng tính chủ động trong điều hành nhưng không làm mờ ranh giới thẩm quyền; tăng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư có chọn lọc nhưng phải kiểm soát được nguồn lực và đo lường được hiệu quả.”

Ưu đãi đầu tư phải gắn với kết quả thực hiện cam kết, không chỉ dựa vào cam kết ban đầu

Đề cập tới chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề nghị dự thảo Luật phải quy định rõ các nguyên tắc, tiêu chí cơ bản để xác định dự án được hưởng ưu đãi, hạn chế giao quá nhiều nội dung quan trọng cho văn bản dưới luật.

Theo Chủ tịch Quốc hội, chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt cần tập trung vào những dự án có tác động lan tỏa lớn, tạo động lực phát triển, đóng góp thiết thực vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Đặc biệt, cần xác định rõ các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư, nhất là khả năng chuyển giao công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa, mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước và đóng góp vào sự phát triển của các ngành công nghiệp chiến lược.

“Ưu đãi đầu tư phải gắn với kết quả thực hiện cam kết, không chỉ căn cứ vào những cam kết ban đầu của nhà đầu tư”, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh và cho rằng cần quy định các tiêu chí đầu ra cụ thể, có thể đo lường và kiểm chứng được, chẳng hạn như tỷ lệ nội địa hóa, việc hình thành các trung tâm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng. Nhà đầu tư thực hiện cam kết ở mức độ nào thì được hưởng chính sách ưu đãi tương ứng với mức độ đó.

Quang cảnh phiên thảo luận tại Tổ 2

“Đồng thời, phải có cơ chế giám sát, hậu kiểm và thu hồi ưu đãi rõ ràng đối với những trường hợp không thực hiện đúng cam kết. Chính sách ưu đãi phải hướng tới hiệu quả thực chất, tạo ra giá trị gia tăng và sức lan tỏa đối với nền kinh tế, chứ không chỉ thu hút vốn đầu tư đơn thuần”, Chủ tịch Quốc hội nêu rõ.

Đáng chú ý, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu chính sách thu hút đầu tư nước ngoài phải gắn với việc nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc thu hút các tập đoàn lớn, các dự án công nghệ cao phải tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất, cung ứng và giá trị toàn cầu.

“Phải làm thế nào để doanh nghiệp nhỏ và vừa có đất sống. Không thể để doanh nghiệp nhỏ và vừa bị chèn ép, thiếu không gian phát triển ngay trên thị trường trong nước”, Chủ tịch Quốc hội lưu ý, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu nâng cao khả năng liên kết và sức cạnh tranh của cộng đồng doanh nghiệp trong nước.

Đơn giản hóa thủ tục đầu tư phải đi đôi với chuyển đổi số và bảo đảm tính đồng bộ của pháp luật

Liên quan đến các quy định về đơn giản hóa thủ tục đầu tư, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề nghị tiếp tục rà soát kỹ tính thống nhất giữa Luật Đầu tư với các luật chuyên ngành có liên quan.

Trong đó, cần đặc biệt quan tâm đến các quy định về lựa chọn nhà đầu tư đối với những dự án sử dụng khu vực biển; thủ tục đầu tư đặc biệt đối với các dự án thuộc lĩnh vực công nghệ chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu.

Theo Chủ tịch Quốc hội, việc đơn giản hóa thủ tục phải được thực hiện đồng bộ, bảo đảm tính khả thi trong quá trình triển khai dự án, tránh tình trạng thủ tục đầu tư được tháo gỡ nhưng lại phát sinh vướng mắc từ các quy định pháp luật chuyên ngành.

Đối với Cổng một cửa đầu tư quốc gia, Chủ tịch Quốc hội đề nghị làm rõ vai trò kết nối, tích hợp, cung cấp dịch vụ và giải quyết thủ tục hành chính cho nhà đầu tư.

“Đây phải thực sự là công cụ tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, tăng tính công khai, minh bạch và nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính cho các nhà đầu tư khi tìm hiểu môi trường đầu tư và thực hiện các thủ tục đầu tư tại Việt Nam”, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.

Chủ tịch Quốc hội yêu cầu không chỉ quy định điều kiện để được hưởng ưu đãi mà phải thiết kế cơ chế kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện, xử lý và thu hồi ưu đãi đối với các trường hợp nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết.

Các đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh tại phiên thảo luận tổ 2

Bên cạnh đó, Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ giải trình thuyết phục hơn về sự cần thiết tiếp tục sửa đổi Luật Đầu tư trong bối cảnh Luật vừa được sửa đổi, bổ sung trong thời gian gần đây. Việc sửa đổi phải bảo đảm tính ổn định, thống nhất và khả thi của hệ thống pháp luật, hạn chế tình trạng các quy định thường xuyên thay đổi, ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư, kinh doanh.

Đối với đề xuất kéo dài thời hạn hoạt động của dự án trong khu công nghiệp sinh thái lên tối đa 70 năm, Chủ tịch Quốc hội đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ cơ sở, sự cần thiết và tác động của chính sách.

Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định nhằm tăng cường liên kết giữa khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) với doanh nghiệp trong nước, ưu tiên thu hút các dự án công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn, thân thiện với môi trường và có khả năng tạo sức lan tỏa đối với nền kinh tế.

Chủ tịch Quốc hội cũng lưu ý việc sửa đổi Luật Đầu tư phải bảo đảm tính đồng bộ với Luật Đầu tư công, Luật Đất đai, các luật về khoa học, công nghệ và các quy định pháp luật khác có liên quan.

Nhấn mạnh những nội dung cần tập trung hoàn thiện, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề nghị cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra đặc biệt quan tâm bốn vấn đề: bảo đảm đúng thẩm quyền trong việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường; quy định rõ tiêu chí và cơ chế ưu đãi đầu tư gắn với kết quả thực hiện cam kết; tăng cường giám sát, hậu kiểm và thu hồi ưu đãi; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và phù hợp với các cam kết quốc tế.

Khẳng định phạm vi sửa đổi Luật lần này tuy không lớn nhưng có ý nghĩa rất quan trọng, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh tinh thần phân cấp, phân quyền mạnh mẽ để tạo thuận lợi cho phát triển, song phải giữ vững kỷ cương pháp luật, bảo đảm đúng thẩm quyền, kiểm soát hiệu quả các chính sách ưu đãi và nguồn lực hỗ trợ đầu tư.

Đại biểu biểu Nguyễn Minh Đức, Đoàn ĐBQH thành phố Hồ Chí Minh

Không để chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt trở thành ưu đãi dàn trải

Thảo luận tại Tổ 2, nhiều đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh cũng góp ý cụ thể vào dự án Luật Đầu tư (sửa đổi). Qua nghiên cứu Điều 17 của dự thảo Luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt, đại biểu biểu Nguyễn Minh Đức, Đoàn ĐBQH thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy vẫn còn một số quy định trùng lặp, chưa thống nhất về thẩm quyền, thiếu đồng bộ với các quy định pháp luật có liên quan và có thể phát sinh những bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện.

Phân tích quy định tại khoản 2 Điều 17 về đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư đặc biệt, đại biểu Nguyễn Minh Đức cho rằng, dự thảo còn tồn tại những nội dung trùng lặp về phạm vi điều chỉnh và kỹ thuật lập pháp.

Cụ thể, điểm a quy định khái quát về dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghệ chiến lược, trong khi điểm b tiếp tục liệt kê các lĩnh vực như chip bán dẫn, trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo. Về bản chất, đây đều là những lĩnh vực thuộc nhóm công nghệ chiến lược, do đó việc quy định trùng lặp có thể gây lúng túng cho cơ quan thực thi trong xác định căn cứ pháp lý áp dụng.

Đặc biệt, đại biểu Nguyễn Minh Đức bày tỏ băn khoăn đối với quy định tại điểm d khoản 2 về việc đưa các dự án thuộc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư vào phạm vi áp dụng chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt.

Theo đại biểu, danh mục ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư hiện bao gồm nhiều lĩnh vực. Nếu đưa toàn bộ danh mục này vào Điều 17 sẽ làm mất đi ranh giới giữa chính sách ưu đãi đầu tư thông thường và ưu đãi đầu tư đặc biệt.

“Việc đưa cả dự án thuộc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư vào hưởng cơ chế Điều 17 sẽ san phẳng ranh giới giữa ưu đãi đầu tư thông thường và ưu đãi đầu tư đặc biệt, làm mất đi tính trọng tâm của công cụ chính sách đặc biệt và có nguy cơ gây áp lực lớn lên cân đối ngân sách nhà nước”, đại biểu phân tích.

Từ đó, đại biểu Nguyễn Minh Đức đề nghị chỉnh lý khoản 2 theo hướng tập trung vào các nhóm lĩnh vực cốt lõi như nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo, hạ tầng số, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, công nghệ chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và trung tâm logistics quốc tế. Đồng thời, đề nghị bỏ điểm d khoản 2 để bảo đảm chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt thực sự có trọng tâm, trọng điểm, tránh phân bổ nguồn lực dàn trải.

Các đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh tại phiên thảo luận tổ 2

Ngân sách nhà nước nên ưu tiên những chính sách có tính lan tỏa

Đề cập đến các hình thức hỗ trợ đầu tư đặc biệt tại khoản 7 Điều 17, đại biểu Nguyễn Minh Đức đề nghị cân nhắc việc sử dụng ngân sách nhà nước để hỗ trợ trực tiếp chi phí mua sắm máy móc, thiết bị cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tái đầu tư.

Theo đại biểu, lợi nhuận chưa chuyển về nước về bản chất vẫn là nguồn vốn tư nhân của nhà đầu tư. Việc sử dụng ngân sách nhà nước tài trợ trực tiếp cho chi phí mua sắm tài sản cố định riêng lẻ của doanh nghiệp FDI chưa phù hợp với nguyên tắc quản lý tài chính công và có thể tạo ra sự thiếu bình đẳng với doanh nghiệp trong nước.

Mặt khác, cơ quan tài chính cũng sẽ gặp khó khăn trong việc xác định, thẩm định giá trị thực của các dây chuyền, máy móc, thiết bị nhập khẩu từ nước ngoài để làm căn cứ hỗ trợ.

Đại biểu nhấn mạnh, ngân sách nhà nước nên tập trung hỗ trợ những hoạt động có tính lan tỏa xã hội cao như đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, thử nghiệm trong môi trường có kiểm soát (sandbox), phát triển hạ tầng kỹ thuật dùng chung và hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng.

Cùng với đó, đại biểu đề nghị bỏ quy định về hỗ trợ "chi phí khác theo quy định của Chính phủ" tại điểm g khoản 7. Theo đại biểu, hỗ trợ đầu tư đặc biệt có thể là khoản chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước. Nếu Luật chỉ quy định một nội dung mở về "chi phí khác" mà không xác định phạm vi, điều kiện hoặc mức trần hỗ trợ thì có nguy cơ dẫn đến việc ủy quyền quá rộng trong quyết định sử dụng ngân sách. Điều này không chỉ làm thiếu rõ ràng về thẩm quyền mà còn có thể ảnh hưởng đến kỷ luật tài chính, ngân sách.

Liên quan đến khoản 9, Điều 17 về khuyến khích doanh nghiệp FDI công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật và lộ trình nội địa hóa, đại biểu Nguyễn Minh Đức cho rằng, quy định này mới mang tính khuyến khích, vận động, chưa xác lập rõ quyền, nghĩa vụ và cơ chế thực thi. Đại biểu đề nghị bỏ khoản 9 khỏi Điều 17, đồng thời nghiên cứu đưa những nội dung mang tính định hướng vào chiến lược phát triển hoặc văn bản hướng dẫn của Chính phủ.

Tổng thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Mạnh, đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh phát biểu

Cần cơ chế đủ mạnh để biến nhu cầu mua sắm của doanh nghiệp FDI thành cơ hội phát triển cho doanh nghiệp Việt Nam

Cùng mối quan tâm, góp ý quy định tại Điều 17 của dự thảo Luật, đại biểu Lê Quang Mạnh, Đoàn ĐBQH thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách nhằm tăng cường liên kết giữa khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) với doanh nghiệp trong nước, qua đó nâng cao năng suất chung của nền kinh tế và tạo động lực cho tăng trưởng bền vững.

Đề cập đến ý kiến của đại biểu Nguyễn Minh Đức về quy định khuyến khích tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật và lộ trình nội địa hóa, đại biểu Lê Quang Mạnh cũng đồng tình, nếu chỉ dừng lại ở quy định mang tính khuyến khích thì chính sách này khó có thể đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả thực chất.

Tuy nhiên, thay vì đề nghị bỏ quy định này, đại biểu Lê Quang Mạnh cho rằng cần tiếp tục “gia cố”, hoàn thiện và thiết kế thành một chính sách cụ thể, có tính khả thi cao hơn.

Phân tích thực trạng phát triển của khu vực FDI trong những năm qua, đại biểu cho rằng, nền kinh tế Việt Nam đang tồn tại tình trạng mà báo chí thường gọi là “một nền kinh tế có hai nền kinh tế”, hay hình ảnh những “ốc đảo FDI” trong nền kinh tế.

Theo đại biểu Lê Quang Mạnh, khu vực FDI của Việt Nam phát triển rất mạnh, có sự gắn kết chặt chẽ với các chuỗi cung ứng và sản xuất toàn cầu. Các doanh nghiệp FDI, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia, có năng suất lao động cao, công nghệ hiện đại và dây chuyền sản xuất tiên tiến.

Sự hiện diện của những tập đoàn lớn như Samsung, LG, Intel đã góp phần đưa Việt Nam trở thành một cứ điểm sản xuất công nghiệp quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là mức độ liên kết, gắn kết và lan tỏa của khu vực FDI đối với phần còn lại của nền kinh tế, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước, vẫn còn rất hạn chế.

Đại biểu nhấn mạnh, đây là một trong những nguy cơ lớn đối với tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế Việt Nam. “Nếu chúng ta không cơ cấu lại, không tạo được một cấu trúc sản xuất có tính gắn kết giữa các khu vực, từ doanh nghiệp lớn đến doanh nghiệp vừa và nhỏ, giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, thì sẽ rất khó nâng cao năng suất chung của nền kinh tế và đạt được các mục tiêu tăng trưởng trong những năm tới”, đại biểu phân tích.

Đại biểu Nguyễn Thanh Tùng, Đoàn ĐBQH thành phố Hồ Chí Minh

Từ thực tế đó, đại biểu Lê Quang Mạnh đánh giá cao nỗ lực của cơ quan soạn thảo khi bước đầu đưa ra định hướng chính sách nhằm tăng cường liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước.

Tuy nhiên, theo đại biểu, với một chủ trương chính sách có ý nghĩa quan trọng như vậy, việc dự thảo Luật chỉ quy định khuyến khích tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật và lộ trình nội địa hóa là chưa đủ, khó tạo ra chuyển biến thực chất trong thực tiễn.

“Một tư tưởng chính sách lớn như vậy mà chỉ dừng lại ở một câu khuyến khích các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật và lộ trình nội địa hóa thì không có nhiều giá trị trong thực tiễn”, đại biểu Lê Quang Mạnh nêu quan điểm.

Do đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy định theo hướng thiết kế các cơ chế, chính sách đủ mạnh, có tính khả thi để biến nhu cầu mua sắm, sản xuất và cung ứng của doanh nghiệp FDI thành cơ hội phát triển cho doanh nghiệp Việt Nam.

Đại biểu lưu ý, Việt Nam không thể áp đặt một cách hành chính các tỷ lệ nội địa hóa đối với doanh nghiệp FDI. Tuy nhiên, hoàn toàn có thể thiết kế các cơ chế chính sách phù hợp nhằm khuyến khích và thúc đẩy doanh nghiệp FDI tăng cường liên kết với các nhà cung cấp trong nước.

Chẳng hạn, cần nghiên cứu quy định cụ thể về trách nhiệm công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, lộ trình nội địa hóa của doanh nghiệp FDI gắn với việc áp dụng các chính sách ưu đãi; xác định rõ mức độ công bố thông tin, trách nhiệm thực hiện và cơ chế theo dõi, đánh giá việc thực hiện các cam kết.

Cùng với đó, cần có các chính sách hỗ trợ trực tiếp, tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực sản xuất, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và từng bước tham gia vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia.

Đại biểu Lê Quang Mạnh cho rằng, dự thảo Luật đã thiết kế nhiều công cụ, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp. Vì vậy, hoàn toàn có thể tiếp tục nghiên cứu, bổ sung các cơ chế cụ thể để hiện thực hóa mục tiêu tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.

“Chúng ta phải thiết kế được một cơ chế đủ mạnh để biến nhu cầu của doanh nghiệp FDI, của các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thành cơ hội phát triển cho doanh nghiệp Việt Nam”, đại biểu Lê Quang Mạnh đề nghị.

Theo đại biểu, nếu không tận dụng quá trình sửa đổi Luật lần này để hoàn thiện các cơ chế, chính sách có tính khả thi, tạo sự gắn kết thực chất giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước thì đây sẽ là một cơ hội rất đáng tiếc.


Dương Dung, Phạm Thắng / quochoi.vn
Bình luận

Các tin khác

Tin đọc nhiều