Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Quảng Ninh
Quảng Ninh
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Để phát triển vùng trồng na bền vững

Trong bức tranh tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, cây na đang dần khẳng định vị trí là một trong những cây ăn quả chủ lực của tỉnh. Không chỉ phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, cây na còn mang lại hiệu quả kinh tế rõ nét, góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tạo sinh kế ổn định cho người dân nhiều địa phương. Tuy nhiên, để loại cây ăn quả này thực sự trở thành sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh cao, phát triển bền vững và gắn với thị trường, tỉnh đang đứng trước yêu cầu phải nhìn thẳng vào thực trạng sản xuất, từ đó tái cấu trúc vùng trồng và chuỗi giá trị theo hướng bài bản, dài hạn.

Quy mô vùng trồng lớn nhưng xu hướng phân tán


Hiện nay, toàn tỉnh có diện tích trên 1.000ha trồng na và đây là loại cây ăn quả có diện tích lớn nhất trong nhóm cây ăn quả chủ lực của tỉnh.

Với diện tích trên 1.000ha, sản lượng hằng năm khoảng 14.000 tấn quả, Quảng Ninh hiện là một trong 5 tỉnh sản xuất na trọng điểm của cả nước. Đây cũng là loại cây ăn quả có diện tích lớn nhất trong nhóm cây ăn quả chủ lực của tỉnh, tập trung tại các địa phương, như: An Sinh, Bình Khê, Quảng Yên… Đến nay, na là loại cây ăn quả, năng suất bình quân đạt trên 12 tấn/ha, sản lượng hằng năm khoảng 14.000 tấn.

Ở những vùng sản xuất tập trung, cây na đã chứng minh được hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác. Với na dai, năng suất bình quân đạt trên 12 tấn/ha với giá dao động từ 20.000-30.000 đồng/kg, mang lại doanh thu từ 240-300 triệu đồng/ha. Đối với na bở, dù năng suất thấp hơn, chỉ khoảng 8-10 tấn/ha, nhưng giá bán cao hơn, trung bình 30.000-40.000 đồng/kg, thậm chí đầu vụ có thể đạt 80.000-100.000 đồng/kg, giúp doanh thu nhiều mô hình vượt mốc 300 triệu đồng/ha/năm.

Ông Bùi Xuân Hanh (phường Bình Khê) phấn khởi cho biết: Hiện gia đình sở hữu vườn na bở giống gốc bản địa. Nhờ làm chủ được kỹ thuật chăm sóc và nhân giống, năm 2025, mỗi cây trung bình cho khoảng 20-30kg quả, phần lớn là hàng loại một với khoảng 3 quả/kg; giá bán dao động từ 90.000-100.000 đồng/kg, thu nhập bình quân đạt trên 2 triệu đồng/cây.


Ông Bùi Xuân Hanh (phường Bình Khê) trồng giống na bở bản địa có giá trị kinh tế cao.

Từ lợi ích kinh tế cao mang lại, một bộ phận nông dân đã chủ động chuyển đổi từ na dai sang na bở, áp dụng các biện pháp kỹ thuật như thụ phấn bổ sung, rải vụ thu hoạch, qua đó ổn định năng suất và nâng cao giá trị sản phẩm. Một số vùng trồng đã được chứng nhận VietGAP với diện tích trên 350ha, chiếm khoảng 40% diện tích na tại TP Đông Triều (trước sáp nhập). Sở NN&MT đã đề nghị Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ NN&MT) công nhận lưu hành đặc cách cây trồng đối với 2 giống na dai và na bở của Đông Triều. Trung tâm Khuyến nông tỉnh và Quản lý bảo vệ, phát triển rừng (Bộ NN&MT) đã tự công bố 1 giống na QN-D1. Nhiều người dân tại các địa phương cũng đã chủ động tiếp cận các giống na mới có nguồn gốc nhập nội để trồng (na Hoàng hậu, na Sầu riêng…).

Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế giữa các vùng trồng vẫn còn chênh lệch đáng kể. Ở những địa phương mới phát triển diện tích như xã Đầm Hà, người dân chủ yếu canh tác theo kinh nghiệm, ít đầu tư kỹ thuật, dẫn đến năng suất và chất lượng không ổn định. Điều này cho thấy, lợi thế kinh tế của cây na chưa được khai thác đồng đều trên phạm vi toàn tỉnh. Ông Phạm Văn Viện (thôn Tân Lương, xã Đầm Hà) cho biết: Sản phẩm quả na được người tiêu dùng ưa chuộng, nhưng do sản xuất quy mô gia đình nên việc mở rộng diện tích, tiếp cận kỹ thuật mới, vận chuyển, tiêu thụ... cũng gặp khó khăn.


Cán bộ Hội Nông dân và ông Nịnh Văn Toàn (bên phải) (thôn Tân Tiến, xã Đầm Hà) trao đổi về kinh nghiệm trồng na.

Nhìn tổng thể trong giai đoạn 2018-2025, diện tích cây ăn quả nói chung và cây na nói riêng có xu hướng biến động, thậm chí giảm trong một số thời điểm do quá trình thu hồi đất cho các dự án phát triển, do nhiều vườn cây đã già cỗi, năng suất suy giảm hoặc ảnh hưởng do thiên tai... Theo thống kê của Sở NN&MT, diện tích cây na từ mức trên 1.200ha năm 2018 đã giảm xuống còn khoảng 1.008ha năm 2023, trước khi được phục hồi lên trên 1.100ha vào năm 2025.

Một vấn đề đáng lưu ý là vùng trồng na hiện vẫn còn phân tán, xen kẽ với khu dân cư và các loại cây trồng khác. Điều này gây khó khăn cho việc đầu tư hạ tầng đồng bộ, áp dụng cơ giới hóa, cũng như xây dựng mã số vùng trồng, những yêu cầu ngày càng mang tính bắt buộc trong tổ chức sản xuất nông sản hiện đại.

Bên cạnh đó, vùng trồng na của tỉnh đang đối mặt với nhiều khó khăn như: Hạ tầng phục vụ sản xuất tại nhiều vùng còn hạn chế; đất đai nghèo dinh dưỡng, địa hình dốc gây khó khăn cho cơ giới hóa; chất lượng giống chưa được kiểm soát chặt chẽ do phần lớn diện tích trồng bằng hạt; liên kết sản xuất - tiêu thụ lỏng lẻo; thiếu cơ sở sơ chế, bảo quản, chế biến sau thu hoạch; thời gian bảo quản ngắn, áp lực mùa vụ lớn.


Nhờ trồng na, doanh thu nhiều mô hình vượt mốc 300 triệu đồng/ha/năm. (Ảnh: Trồng na trái vụ đã giúp cho anh Trần Văn Cơ, thôn Xích Thổ, xã Thống Nhất đạt doanh thu khoảng 500 triệu đồng/năm).

Đối với công tác tiêu thụ, các địa phương sản xuất na quy mô lớn đều có các điểm thu mua na có mái che, diện tích rộng, giúp các chủ vườn na tập kết, phân loại, cân, đóng gói na, tạo điều kiện cho thương lái lựa chọn, vận chuyển na đến địa điểm tiêu thụ. Ngoài các kênh tiêu thụ truyền thống, một số mô hình đã bước đầu tiếp cận các sàn thương mại điện tử, kênh OCOP, mạng xã hội để bán hàng trực tiếp, song quy mô còn khiêm tốn, nhất là với tỉnh du lịch đón trên 12 triệu lượt khách mỗi năm. Rõ ràng, Quảng Ninh có một thị trường tiêu thụ tiềm năng rất lớn cho nông sản địa phương, trong đó có quả na; tuy nhiên, sự kết nối giữa sản xuất na với du lịch, dịch vụ hiện vẫn còn lỏng lẻo. Phần lớn sản phẩm vẫn phụ thuộc vào tư thương, giá cả bị chi phối bởi thị trường ngắn hạn, tiềm ẩn rủi ro “được mùa, mất giá”, đặc biệt trong bối cảnh thời gian thu hoạch chính vụ chỉ kéo dài khoảng một tháng.

Tái cấu trúc vùng trồng và chuỗi giá trị


Gia đình ông Lê Hồng Thắng (thôn Đình, xã Thống Nhất) đang chăm sóc cho vườn na trái vụ.

Phát triển vùng trồng na bền vững không chỉ là câu chuyện của từng hộ nông dân, mà là bài toán tổng thể về quy hoạch, tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học - công nghệ và phát triển thị trường. Thực tiễn đặt ra yêu cầu tỉnh Quảng Ninh cần chuyển từ tư duy “sản xuất những gì mình có” sang “sản xuất những gì thị trường cần”, gắn phát triển vùng trồng với tái cấu trúc chuỗi giá trị.

Một trong những giải pháp mang tính nền tảng là rà soát, điều chỉnh quy hoạch vùng trồng na theo hướng tập trung, lựa chọn những khu vực có lợi thế rõ về thổ nhưỡng, khí hậu. Việc đánh giá, phân tích đất đai cần được thực hiện bài bản để xác định vùng sinh thái thích hợp, từ đó đưa ra khuyến cáo kỹ thuật phù hợp cho từng tiểu vùng. Song song với quy hoạch là đầu tư hạ tầng đồng bộ về giao thông nội đồng, hệ thống tưới tiết kiệm, điện sản xuất, cơ sở sơ chế - đóng gói.

Ông Nguyễn Văn Phú, Phó Chủ tịch UBND xã Thống Nhất, cho biết: Việc tỉnh xác định cây na là một trong những loài cây trồng lâm nghiệp chính mở ra hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên một số diện tích rừng sản xuất có điều kiện phù hợp, qua đó mở rộng không gian phát triển vùng trồng na theo hướng bền vững. Hiện xã có vùng trồng na trên 45ha với 42 hộ tham gia, dự kiến trong năm 2026, xã tiếp tục mở rộng thêm khoảng 100ha trồng na, đưa na trở thành vùng cây ăn quả chủ lực của địa phương.

Khoa học - công nghệ cũng được xác định là “chìa khóa” để nâng cao năng suất, chất lượng và tính ổn định của sản phẩm na. Tỉnh định hướng đẩy mạnh ghép cải tạo vườn na cũ, sử dụng các giống mới có năng suất cao, khả năng chịu lạnh, rải vụ tốt như na QN-D1, na bở Đài Loan, na dứa… nhằm kéo dài thời gian cung ứng, giảm áp lực mùa vụ. Cùng với đó là tăng cường ứng dụng cơ giới hóa, hệ thống tưới tiết kiệm, chế phẩm sinh học, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), hướng tới sản xuất hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn. Tuy nhiên, theo nhiều hộ dân, việc chuyển giao kỹ thuật cần đi vào thực chất, gắn tập huấn với hướng dẫn trực tiếp ngoài đồng ruộng, giúp nông dân làm chủ quy trình sản xuất, nhất là ở những vùng trồng mới như Thống Nhất, Đầm Hà.

Chia sẻ kinh nghiệm về công tác tiêu thụ, ông Hoàng Văn Hướng, Giám đốc HTX na dai Nghĩa Phương (tỉnh Bắc Ninh) cho biết: Hiện HTX đang là đơn vị thu mua lớn trong khu vực miền Bắc để cung cấp na cho Hà Nội và các thành phố lớn. Quy mô, diện tích, sản lượng na của tỉnh Quảng Ninh hiện không phải vấn đề quá lớn trong công tác tiêu thụ, tuy nhiên, thực tế cho thấy, để có một đầu ra ổn định và giá bán tốt, việc phát triển bền vững vùng trồng na không thể thiếu các mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ. Việc tổ chức sản xuất theo HTX, tổ hợp tác, liên kết “nhiều nhà” sẽ giúp tập trung nguồn lực, chuẩn hóa quy trình, nâng cao sức cạnh tranh và giảm rủi ro cho người sản xuất. Quan trọng nhất là người dân phải làm ra sản phẩm chất lượng tốt, quả có kích thước, chất lượng đồng đều, tính ổn định cao.

Nhiều doanh nghiệp và các hộ trồng na cũng cho biết, cùng với việc củng cố thị trường truyền thống, tỉnh cần đẩy mạnh xúc tiến thương mại, kết nối với hệ thống siêu thị, chuỗi nông sản sạch, thương mại điện tử. Đồng thời khai thác hiệu quả thị trường du lịch thông qua các mô hình du lịch nông nghiệp, trải nghiệm vườn na, qua đó gia tăng giá trị và nhận diện thương hiệu sản phẩm, hướng đi mới đầy tiềm năng tại các vùng nông thôn hiện nay.


Trong khuôn khổ của buổi tọa đàm "Phát triển vùng sản xuất na bền vững tại Quảng Ninh" tổ chức vào tháng 12/2025, các đại biểu tham quan thực tế mô hình sản xuất na tại xã Đầm Hà.

Ông Nguyễn Khắc Dũng, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông và Quản lý bảo vệ, phát triển rừng, cho biết: Phát triển vùng na bền vững là nhiệm vụ tất yếu của đơn vị và ngành Nông nghiệp. Tháng 12/2025, tại xã Đầm Hà, Trung tâm đã tổ chức tọa đàm "Phát triển vùng sản xuất na bền vững tại Quảng Ninh". Thông qua tọa đàm đã cùng với các nhà quản lý, chuyên gia và nông dân cùng nhận diện thách thức, tìm giải pháp đưa cây na trở thành mặt hàng nông sản mũi nhọn của địa phương. 3 nhóm giải pháp trọng tâm mang tính chiến lược cho cây na cũng đã được đặt ra, gồm: Chuẩn hóa quy trình canh tác, tập trung trẻ hóa vườn na, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và mở rộng diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ; xây dựng thương hiệu và mã vùng trồng; thắt chặt chuỗi liên kết. Thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục rà soát quy hoạch, tham mưu tỉnh triển khai các chính sách hỗ trợ thiết thực về vốn, công nghệ và xúc tiến thương mại.

Nhìn một cách tổng thể, cây na đã và đang mang lại giá trị kinh tế đáng kể, song để phát triển bền vững, cần một chiến lược dài hạn, đồng bộ từ quy hoạch, hạ tầng, khoa học - công nghệ đến thị trường. Khi những “điểm nghẽn” sớm được tháo gỡ, vùng trồng na Quảng Ninh không chỉ dừng lại ở sản xuất nguyên liệu, mà có thể đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh của tỉnh trong giai đoạn tới.


Hoàng Nga / www.quangninh.gov.vn
Bình luận

Các tin khác

Tin đọc nhiều