Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo sau sắp xếp mạng lưới trường lớp trên địa bàn tỉnh Lào Cai
Thực hiện chủ trương về sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập, tỉnh Lào Cai đã chủ động triển khai đồng bộ việc tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục, gắn tinh gọn bộ máy với nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng dạy học. Sau hơn một tháng vận hành theo mô hình mới, hoạt động giáo dục trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, những chuyển biến tích cực bước đầu được ghi nhận trong tổ chức, quản lý và sử dụng nguồn lực.
.jpg)
Tại thời điểm ngày 01/7/2025, toàn tỉnh có 1.010 cơ sở giáo dục công lập thuộc các cấp học mầm non, phổ thông và giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên. Trong đó, nhiều trường có quy mô nhỏ, phân bố trên địa bàn rộng, một số cơ sở nằm cách xa trung tâm xã, điều kiện giao thông đi lại khó khăn. Sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhiều xã được hình thành trên cơ sở hợp nhất từ hai đến năm xã trước đây, dẫn đến tình trạng trên cùng một địa bàn có nhiều trường học, điểm trường quy mô nhỏ, gây khó khăn trong quản lý, điều phối đội ngũ và tập trung nguồn lực đầu tư. Trước yêu cầu đó, tỉnh Lào Cai đã chủ động rà soát toàn diện hiện trạng mạng lưới cơ sở giáo dục, nghiên cứu, xây dựng phương án sắp xếp phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Quá trình sắp xếp được thực hiện theo hướng giảm đầu mối tổ chức, khắc phục sự phân tán về quản lý, đồng thời chú trọng kiện toàn đội ngũ, bảo đảm điều kiện dạy học và quyền lợi của giáo viên, học sinh. Các phương án được xây dựng trên cơ sở rà soát quy mô học sinh, điều kiện cơ sở vật chất, phân bố dân cư, khoảng cách địa lý và đặc điểm từng địa bàn. Đối với vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, việc tổ chức lại trường, lớp được xem xét thận trọng, phù hợp với điều kiện giao thông, khả năng tổ chức bán trú, nội trú và nhu cầu học tập của học sinh.
Với tinh thần chủ động, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, đến ngày 01/9/2026, 100% xã, phường đã phê duyệt đề án sắp xếp cấp xã và ban hành các quyết định sáp nhập trường theo phương án được phê duyệt. Các cơ sở giáo dục trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo cũng được tổ chức lại theo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh. Việc hoàn thành sắp xếp trước khi bước vào năm học 2026-2027 tạo điều kiện để các nhà trường kiện toàn tổ chức, phân công nhiệm vụ, xây dựng kế hoạch và triển khai hoạt động giáo dục ngay từ đầu năm học. Kết quả, toàn tỉnh giảm từ 1.010 xuống còn 473 cơ sở giáo dục, tương đương giảm 537 đầu mối, đạt tỷ lệ 53,2%. Mạng lưới sau sắp xếp gồm 132 trường mầm non, 77 trường tiểu học, 59 trường trung học cơ sở, 114 trường tiểu học và trung học cơ sở, 32 trường trung học cơ sở và trung học phổ thông, 43 trường trung học phổ thông và 16 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên.
Một trong những nhiệm vụ được tỉnh tập trung chỉ đạo là sắp xếp, bố trí đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên trường học phù hợp với mô hình tổ chức mới. Trước sắp xếp, toàn tỉnh có 2.599 cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, gồm 895 hiệu trưởng và 1.704 phó hiệu trưởng. Sau sắp xếp, số cán bộ quản lý còn 1.646 người, giảm 953 vị trí. Trong số cán bộ được bố trí lại, 951 người chuyển sang trực tiếp giảng dạy, đảm nhiệm nhiệm vụ tổ trưởng, tổ phó chuyên môn; 2 người được bố trí công tác tại cơ quan, đơn vị khác. Việc bố trí lại đội ngũ được thực hiện theo hướng phát huy trình độ chuyên môn, kinh nghiệm quản lý và năng lực sư phạm của cán bộ sau sắp xếp. Những cán bộ từng đảm nhiệm vị trí quản lý tiếp tục tham gia giảng dạy, tổ chức hoạt động chuyên môn, hỗ trợ đồng nghiệp và nâng cao chất lượng giáo dục tại nhà trường. Giải pháp này có ý nghĩa thiết thực trong điều kiện một số địa bàn còn thiếu giáo viên, góp phần sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực hiện có, đồng thời hạn chế xáo trộn về nhân sự trong giai đoạn đầu vận hành mô hình mới.
Cùng với việc sắp xếp đội ngũ tại chỗ, tỉnh đã triển khai những giải pháp linh hoạt nhằm kịp thời bổ sung giáo viên cho các địa bàn còn khó khăn về nguồn nhân lực. Trên cơ sở rà soát nhu cầu thực tế, ngành Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các địa phương tổ chức điều động, biệt phái giáo viên, bố trí giảng dạy liên trường, liên cấp và hỗ trợ chuyên môn giữa các cơ sở giáo dục. Riêng trong tháng 9/2026, tỉnh đã biệt phái 34 giáo viên tiếng Anh từ các địa bàn có điều kiện thuận lợi đến hỗ trợ các cơ sở giáo dục thuộc khu vực Mù Cang Chải, Trạm Tấu. Việc chủ động điều phối giáo viên cho thấy tỉnh đã chú trọng giải quyết những vấn đề thực tiễn phát sinh ngay sau sắp xếp, lấy yêu cầu tổ chức dạy học làm trọng tâm. Thay vì để tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ kéo dài, việc rà soát, bố trí lại đội ngũ được thực hiện trên phạm vi rộng hơn, tạo điều kiện sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực hiện có. Đồng thời, tỉnh tiếp tục quan tâm tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu các giải pháp thu hút giáo viên đối với những môn học khó tuyển, địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hướng tới bảo đảm đội ngũ ổn định, đáp ứng yêu cầu thực hiện chương trình giáo dục trong những năm tiếp theo.
Cùng với đội ngũ giáo viên, nhân viên hỗ trợ giáo dục được rà soát, bố trí lại theo quy mô học sinh, số lớp, số điểm trường và yêu cầu nhiệm vụ. Sau sắp xếp, toàn tỉnh có 2.071 nhân viên hỗ trợ giáo dục, so với 2.097 người trước sắp xếp; 26 người được chuyển sang công tác tại đơn vị ngoài ngành giáo dục. Đến ngày 01/9/2026, 100% xã, phường và cơ sở giáo dục đã hoàn thành việc sắp xếp đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên theo quy định. Kết quả này tạo điều kiện để các nhà trường chủ động phân công chuyên môn, xây dựng thời khóa biểu, tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng học sinh và triển khai nhiệm vụ năm học. Sau hơn một tháng vận hành, hoạt động của các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh đã cơ bản đi vào ổn định. Các nhà trường hoàn thành kiện toàn tổ chức bộ máy, rà soát, điều chỉnh quy chế làm việc, phân công nhiệm vụ phù hợp với quy mô và mô hình tổ chức mới. Công tác quản lý, điều hành từng bước được thống nhất; việc xây dựng kế hoạch giáo dục, bố trí lớp học và phân công giáo viên được điều chỉnh theo điều kiện thực tế. Đặc biệt, hoạt động chuyên môn được duy trì liên tục, không để việc sắp xếp tổ chức làm gián đoạn quá trình học tập của học sinh.
Tại một số trường có quy mô lớn sau sáp nhập, lợi thế về đội ngũ giáo viên, số lượng học sinh và cơ sở vật chất bước đầu được phát huy. Việc sinh hoạt chuyên môn theo tổ, nhóm được tăng cường; giáo viên có thêm điều kiện trao đổi kinh nghiệm, phối hợp tổ chức các hoạt động giáo dục và sử dụng chung thiết bị, học liệu. Một số cơ sở giáo dục đã chủ động điều chỉnh phân công chuyên môn, bố trí giáo viên hỗ trợ giữa các điểm trường, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ và từng bước khắc phục tình trạng thiếu giáo viên cục bộ.
Cùng với sắp xếp tổ chức bộ máy, tỉnh đã triển khai rà soát, tổ chức lại các điểm trường lẻ theo hướng phù hợp với quy mô học sinh và điều kiện thực tế. Đến đầu năm học 2026-027, toàn tỉnh đã thực hiện xóa 75 điểm trường lẻ, đưa học sinh về học tại điểm trường chính và phân hiệu; đồng thời xác định lộ trình tiếp tục rà soát, sắp xếp 243 điểm trường trước năm học 2027-2028. Việc tổ chức lại các điểm trường quy mô nhỏ bước đầu tạo điều kiện tập trung nguồn lực đầu tư, nâng cao hiệu quả sử dụng phòng học, thiết bị và đội ngũ giáo viên. Tại những cơ sở có điều kiện thuận lợi, học sinh được học tập trong môi trường có quy mô phù hợp hơn, thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động giáo dục, sinh hoạt tập thể và phát triển kỹ năng. Đồng thời, việc tập trung nguồn lực cũng tạo điều kiện từng bước nâng cấp phòng học, phòng bộ môn, thư viện, khu phục vụ học sinh và các hạng mục phụ trợ.
Bên cạnh những kết quả bước đầu, hoạt động của các cơ sở giáo dục sau sắp xếp vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc cần tập trung giải quyết. Địa bàn quản lý của nhiều trường được mở rộng, các điểm trường phân tán, khoảng cách đi lại xa, ảnh hưởng đến công tác quản lý, tổ chức dạy học và bố trí đội ngũ. Tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ giữa các cấp học, môn học và địa bàn chưa được khắc phục triệt để, nhất là tại vùng cao, vùng khó khăn. Cơ sở vật chất tại một số trường chưa đồng bộ, còn thiếu phòng học bộ môn, phòng chức năng, nhà công vụ, khu bán trú và các công trình thiết yếu. Việc tiếp tục sắp xếp các điểm trường lẻ cần được cân nhắc kỹ lưỡng trên cơ sở điều kiện giao thông, phân bố dân cư và nhu cầu học tập của học sinh.
Cùng với đó, việc bố trí, sử dụng và giải quyết chế độ, chính sách đối với cán bộ quản lý, nhân viên dôi dư sau sắp xếp còn những vướng mắc cần được hướng dẫn, tháo gỡ. Một số cơ sở giáo dục có học sinh ở bán trú nhưng chưa đáp ứng điều kiện thành lập trường phổ thông dân tộc bán trú, dẫn đến khó khăn trong thực hiện chính sách đối với giáo viên và học sinh. Thực tiễn đó đòi hỏi quá trình sắp xếp phải tiếp tục gắn chặt với việc hoàn thiện các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, giải quyết đồng bộ những bất cập về đội ngũ, cơ sở vật chất và cơ chế, chính sách; lấy chất lượng dạy học, quyền lợi của học sinh và hiệu quả hoạt động của nhà trường làm thước đo kết quả đổi mới. Trong thời gian tới, tỉnh Lào Cai là tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của mạng lưới cơ sở giáo dục sau sắp xếp, chuyển những thay đổi về tổ chức thành kết quả cụ thể trong quản lý, giảng dạy và học tập; trọng tâm là thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ, giải pháp sau:
Một là, nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành các cơ sở giáo dục sau sắp xếp. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện tổ chức bộ máy, phương thức quản trị nhà trường; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh. Đánh giá thực chất hiệu quả hoạt động trên cơ sở chất lượng giáo dục, điều kiện học tập và hiệu quả sử dụng nguồn lực; lấy kết quả đánh giá làm căn cứ điều chỉnh, hoàn thiện mô hình tổ chức.
Hai là, tập trung giải quyết căn bản tình trạng thừa, thiếu giáo viên, bảo đảm đủ giáo viên giảng dạy các môn học. Rà soát nhu cầu theo từng cấp học, môn học, địa bàn; tổ chức tuyển dụng hết số biên chế được giao trong quý IV/2026. Chủ động điều động, biệt phái, bố trí dạy liên trường, thỉnh giảng, hợp đồng giáo viên theo quy định và bảo đảm kinh phí thực hiện; chấm dứt tình trạng thiếu giáo viên đứng lớp do nguyên nhân chủ quan trong năm học 2026-2027. Đồng thời, dự báo chính xác nhu cầu biên chế giai đoạn 2027–2031, gắn với quy mô trường, lớp và nhu cầu thực tế.
Ba là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên. Tăng cường bồi dưỡng năng lực quản trị, chuyên môn, nghiệp vụ, nhất là đối với nhân sự được bố trí nhiệm vụ mới sau sắp xếp; giải quyết kịp thời chế độ, chính sách đối với các trường hợp dôi dư theo quy định. Phối hợp với các cơ sở đào tạo sư phạm xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên theo nhu cầu từng môn học, cấp học, ưu tiên địa bàn khó tuyển dụng.
Bốn là, hoàn thiện mạng lưới trường, lớp gắn với đầu tư, sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất. Tiếp tục rà soát, sắp xếp các điểm trường theo lộ trình phù hợp với phân bố dân cư, điều kiện giao thông, bán trú, nội trú; bảo đảm quyền học tập của học sinh, nhất là vùng cao, biên giới. Ưu tiên nguồn lực nâng cấp phòng học, thiết bị và các công trình thiết yếu; sử dụng hiệu quả trụ sở, quỹ đất, tài sản công dôi dư sau sắp xếp, khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, lãng phí.
Năm là, đổi mới hoạt động chuyên môn, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao chất lượng giáo dục. Phát huy lợi thế của các trường sau sáp nhập trong tổ chức sinh hoạt chuyên môn, chia sẻ đội ngũ, thiết bị, học liệu và đổi mới phương pháp giảng dạy. Chuẩn hóa, cập nhật dữ liệu về giáo viên, học sinh, trường lớp phục vụ quản lý, dự báo và điều phối nguồn lực. Tăng cường phối hợp giữa ngành Giáo dục và Đào tạo với các địa phương; quan tâm giải quyết chính sách đối với giáo viên, học sinh bán trú, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, tạo sự đồng thuận của phụ huynh và Nhân dân.
Sau hơn một tháng vận hành, mạng lưới cơ sở giáo dục sau sắp xếp trên địa bàn tỉnh Lào Cai đã cơ bản ổn định, tạo tiền đề để tiếp tục đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng dạy và học. Phát huy kết quả bước đầu, tỉnh tiếp tục tập trung hoàn thiện các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, xây dựng môi trường học tập công bằng, hiện đại, tạo cơ hội phát triển toàn diện cho mỗi học sinh, nhất là ở vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Lào Cai trở thành cực tăng trưởng, trung tâm kết nối giao thương kinh tế quốc tế, phát triển theo hướng “Xanh - Hài hòa - Bản sắc - Hạnh phúc”.


