Nâng cao hiệu quả ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế
Lào Cai có nhiều lợi thế để mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Tỉnh nằm trên hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, có cửa khẩu quốc tế, tiềm năng phát triển thương mại, logistics, du lịch, nông nghiệp và kinh tế biên giới. Những năm qua, tỉnh duy trì quan hệ hữu nghị với các địa phương của Trung Quốc, Lào, Pháp, Nhật Bản và Belarus; đồng thời mở rộng tiếp xúc, tìm kiếm cơ hội hợp tác với các đối tác tại Hàn Quốc, Ấn Độ, Canada, Nga và nhiều quốc gia khác.
Tỉnh cũng chủ động kết nối với các tổ chức, định chế tài chính quốc tế như Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA), Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), qua đó mở rộng khả năng tiếp cận các chương trình hỗ trợ kỹ thuật, nguồn vốn và kinh nghiệm phát triển.
Trên nền tảng quan hệ hợp tác đã xây dựng, việc triển khai Chỉ thị số 56-CT/TW và Nghị quyết số 152/NQ-CP góp phần đưa công tác ký kết, thực hiện các thỏa thuận quốc tế vào nền nếp, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và nâng cao trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị.
Ngay sau khi Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Chỉ thị số 56-CT/TW, UBND tỉnh Lào Cai ban hành Công văn số 7059/UBND-NC ngày 9/7/2026, chỉ đạo các sở, ban, ngành và địa phương tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các nội dung liên quan. Tỉnh gắn việc thực hiện cam kết quốc tế với nhiệm vụ chuyên môn, phong trào học tập số, công tác đánh giá cán bộ, công chức, viên chức và hoạt động thi đua, khen thưởng hằng năm.
Cùng với nâng cao nhận thức, tỉnh phân công một Phó Chủ tịch UBND tỉnh phụ trách công tác đối ngoại; giao Sở Ngoại vụ làm đầu mối tham mưu, hướng dẫn, theo dõi và đôn đốc việc ký kết, thực hiện các thỏa thuận quốc tế. Cơ chế phân công này giúp xác định rõ trách nhiệm quản lý, tăng cường phối hợp giữa cơ quan chuyên môn với các đơn vị trực tiếp triển khai hợp tác.
Trong quá trình chuẩn bị ký kết, các cơ quan, đơn vị phải rà soát nội dung, thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Luật Thỏa thuận quốc tế, đồng thời xem xét các yếu tố pháp lý, đối ngoại, quốc phòng và an ninh. Theo báo cáo của tỉnh, 100% dự thảo thỏa thuận quốc tế cấp tỉnh và cấp sở, ngành đều được thẩm định về pháp lý, đối ngoại và quốc phòng - an ninh trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Tỉnh cũng đưa nội dung kiểm tra việc ký kết, thực hiện các thỏa thuận quốc tế vào kế hoạch kiểm tra chuyên ngành hằng năm của Sở Ngoại vụ; duy trì chế độ báo cáo định kỳ với Bộ Ngoại giao và yêu cầu cơ quan đầu mối cập nhật thông tin trên hệ thống giám sát theo quy định. Những biện pháp này tăng cường kiểm soát ngay từ khâu chuẩn bị, hạn chế nguy cơ ký kết không đúng thẩm quyền, nội dung thiếu tính khả thi hoặc không phù hợp với định hướng phát triển của tỉnh.
So với việc chỉ chú trọng hoàn thành thủ tục ký kết, yêu cầu hiện nay đặt trọng tâm lớn hơn vào trách nhiệm tổ chức thực hiện và hiệu quả của từng thỏa thuận. Tỉnh triển khai phương châm “Rõ người - Rõ việc - Rõ thời gian - Rõ trách nhiệm - Rõ sản phẩm - Rõ thẩm quyền”, gắn văn bản hợp tác với kế hoạch thực hiện và nhiệm vụ cụ thể của từng cơ quan chủ trì.

Phiên thảo luận chuyên trong khuôn khổ Hội nghị hợp tác hành lang kinh tế 5 tỉnh, thành phố Lào Cai, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh (Việt Nam) và Vân Nam (Trung Quốc) lần thứ XII
Trong năm 2026, Lào Cai triển khai nhiều văn bản hợp tác với các đối tác nước ngoài. Các văn bản tiêu biểu gồm thỏa thuận hợp tác với các tỉnh Viêng Chăn, Xay Nhạ Bu Ly và Bò Kẹo của Lào; Chương trình hợp tác giai đoạn 2026 - 2028 với tỉnh Brest của Belarus; Bản ghi nhớ thiết lập quan hệ giao lưu, hợp tác hữu nghị với thành phố Trùng Khánh, Trung Quốc; Biên bản Phiên họp lần thứ 12 Nhóm công tác liên hợp giữa các tỉnh của Việt Nam và tỉnh Vân Nam, Trung Quốc; thỏa thuận hợp tác với Quỹ Phát triển hạnh phúc khu vực của Hàn Quốc; cùng Biên bản Hội nghị hợp tác hành lang kinh tế 5 tỉnh, thành phố Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và Vân Nam lần thứ XII.
Các văn bản này tạo khuôn khổ để tỉnh tiếp tục thúc đẩy quan hệ hữu nghị, giao lưu nhân dân, hợp tác kinh tế và kết nối với các đối tác trong khu vực. Việc duy trì hợp tác với các địa phương của Lào góp phần củng cố quan hệ hữu nghị truyền thống; mở rộng quan hệ với thành phố Trùng Khánh và tỉnh Vân Nam tạo thêm cơ hội tăng cường kết nối kinh tế, thương mại qua biên giới; trong khi hợp tác với các đối tác ngoài khu vực mở ra khả năng tiếp cận kinh nghiệm quản lý, nguồn lực đầu tư và các mô hình phát triển mới.
Đối với Lào Cai, hiệu quả hợp tác quốc tế cần được thể hiện qua những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tỉnh ưu tiên hợp tác phát triển cửa khẩu thông minh, kết nối hạ tầng giao thông liên vận quốc tế, logistics, nông nghiệp sinh thái, du lịch bền vững, chuyển đổi số và quản lý, bảo vệ biên giới. Đây cũng là những lĩnh vực phù hợp với lợi thế địa lý, nhu cầu phát triển và định hướng xây dựng Lào Cai trở thành trung tâm kết nối giao thương giữa Việt Nam, ASEAN với vùng Tây Nam Trung Quốc.

Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Lào Cai ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác với Bệnh viện Nhân dân huyện Hà Khẩu (Trung Quốc)
Đáng chú ý, tỉnh không chỉ mở rộng quan hệ với các đối tác truyền thống mà còn chủ động tìm kiếm đối tác mới, kết nối với các tổ chức quốc tế và định chế tài chính lớn. Việc đa dạng hóa đối tác giúp mở rộng nguồn lực hợp tác, giảm sự phụ thuộc vào một số kênh quan hệ và tăng cơ hội lựa chọn những chương trình phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
UBND tỉnh chủ động cân đối ngân sách địa phương, kết hợp lồng ghép các nguồn vốn hợp pháp để thực hiện nhiệm vụ đối ngoại, ký kết và triển khai thỏa thuận quốc tế. Tỉnh đồng thời thực hiện Nghị quyết số 27/2025/NQ-HĐND ngày 9/12/2025 của HĐND tỉnh về quy định mức chi bảo đảm cho công tác thỏa thuận quốc tế trên địa bàn.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cũng được quan tâm thông qua việc cử công chức tham gia các chương trình chuyên sâu về kỹ năng đàm phán và pháp lý quốc tế do Bộ Ngoại giao, các cơ quan Trung ương tổ chức. Đây là yêu cầu quan trọng trong bối cảnh hoạt động hợp tác ngày càng đa dạng, liên quan đến nhiều lĩnh vực và chịu sự điều chỉnh của nhiều quy định pháp luật.
Bên cạnh những kết quả đạt được, tỉnh vẫn gặp khó khăn về nhân lực chuyên trách, nhất là cán bộ am hiểu pháp luật quốc tế và có trình độ ngoại ngữ chuyên ngành. Một số thủ tục liên quan đến các chương trình, dự án có yếu tố quốc tế còn kéo dài do liên quan đến nhiều hệ thống quy định. Việc số hóa dữ liệu và theo dõi tiến độ thực hiện cam kết ở cấp cơ sở cũng chưa hoàn thiện, ảnh hưởng đến khả năng tổng hợp, đánh giá định kỳ tại một số đơn vị.
Những hạn chế này cho thấy công tác quản lý cam kết quốc tế cần tiếp tục được củng cố đồng bộ từ nhân lực, quy trình đến công cụ theo dõi. Nếu chỉ tập trung hoàn thiện hồ sơ ký kết mà chưa đầu tư tương xứng cho khâu thực hiện, tỉnh sẽ khó phát huy đầy đủ giá trị của các quan hệ hợp tác đã thiết lập.
Thời gian tới, Lào Cai tiếp tục triển khai Chỉ thị số 56-CT/TW và Nghị quyết số 152/NQ-CP gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế. Trọng tâm là nâng cao chất lượng tham mưu, tăng cường trách nhiệm của cơ quan chủ trì và chuyển các nội dung hợp tác thành nhiệm vụ cụ thể, có thời hạn và tiêu chí đánh giá rõ ràng.
Tiếp tục rà soát các thỏa thuận đã ký, đánh giá mức độ hoàn thành, xác định nội dung còn chậm hoặc chưa đạt mục tiêu để kịp thời điều chỉnh kế hoạch thực hiện. Mỗi cơ quan chủ trì phải chủ động xây dựng lộ trình, xác định sản phẩm đầu ra, phân công trách nhiệm và định kỳ báo cáo kết quả. Công tác kiểm tra, giám sát cần tập trung vào tiến độ, chất lượng và lợi ích thực tế của hoạt động hợp tác, thay vì chỉ đánh giá việc hoàn thành thủ tục hành chính.
Cùng với đó, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý, lưu trữ và theo dõi các thỏa thuận quốc tế; từng bước hình thành cơ sở dữ liệu thống nhất, phục vụ tra cứu, cập nhật tiến độ và tổng hợp kết quả. Việc chuẩn hóa dữ liệu sẽ hỗ trợ các cơ quan phối hợp hiệu quả hơn, giảm thời gian tổng hợp báo cáo và nâng cao tính minh bạch trong quá trình tổ chức thực hiện.
Tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại, pháp chế và hợp tác quốc tế; chú trọng kỹ năng đàm phán, xử lý tình huống, ngoại ngữ chuyên ngành và nhận diện rủi ro pháp lý. Đồng thời, Lào Cai kiến nghị các cơ quan Trung ương sớm hoàn thiện Luật Thỏa thuận quốc tế thay thế, ban hành hướng dẫn thống nhất về quy trình xây dựng, đàm phán, ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế, nhất là đối với cấp xã trong điều kiện tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.

Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Hội Hữu nghị Việt Nam - Thái Lan
Việc kết nối với các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài, doanh nghiệp và địa phương nước ngoài cũng cần gắn chặt hơn với nhu cầu thực tế của từng ngành, từng địa bàn. Các lĩnh vực như nông nghiệp công nghệ cao, xúc tiến thương mại và xuất khẩu nông sản, du lịch cộng đồng, bảo vệ môi trường, giáo dục, y tế, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực có thể trở thành trọng tâm hợp tác phù hợp với tiềm năng của tỉnh. Tại khu vực biên giới, tỉnh ưu tiên duy trì giao lưu hữu nghị, phối hợp quản lý biên giới, phòng chống tội phạm và thúc đẩy thương mại qua biên giới theo quy định pháp luật.
Triển khai Chỉ thị số 56-CT/TW và Chương trình hành động của Chính phủ là nhiệm vụ thường xuyên, gắn với trách nhiệm của từng cấp, từng ngành trong công tác đối ngoại. Với việc tăng cường kỷ luật thực thi, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và lựa chọn đúng lĩnh vực ưu tiên, tỉnh Lào Cai xây dựng quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng thực chất, hiệu quả, góp phần khai thác lợi thế cửa khẩu, mở rộng thị trường, thu hút nguồn lực và phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của tỉnh.


