Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều nỗ lực
thúc đẩy phát triển bền vững. (Ảnh minh họa: M.P)

Đó là ý kiến của ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Phó Chủ tịch Hội đồng quốc gia về phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh khi chia sẻ về việc thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam.

Những nỗ lực của Việt Nam trong phát triển bền vững

Nhìn lại từ tháng 9/2015, tại hội nghị của Liên hợp quốc, với sự có mặt của những người đứng đầu 193 quốc gia thành viên, chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền vững với sứ mệnh của một “chương trình nghị sự chuyển đổi thế giới” đã được thông qua. Tại hội nghị đó, 17 mục tiêu phát triển bền vững bảo đảm hài hoà các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, môi trường, giữ vai trò định hình, định hướng cho sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu được xác lập.

Ông Vũ Tiến Lộc cho biết, với chương trình nghị sự này, cả thế giới đang cùng trên 1 con đường phát triển hướng tới mục tiêu: hiệu quả hơn, nhân văn hơn và thân thiện với môi trường hơn theo phương châm “vì con người và không làm đau trái đất”, “không để ai bị bỏ lại phía sau” và “ không để lại gánh nặng cho con cháu”... Phát triển bền vững là hệ giá trị của thế giới hiện đại, là nền tảng tương tác giữa các quốc gia, là nhịp cầu kết nối con người với con người và là giấy thông hành để doanh nghiệp vào thị trường thế giới. Để lại “dấu chân xanh” trên bản đồ kinh tế toàn cầu là chuẩn mực của một doanh nghiệp nhân văn. Các hiệp định thương mại tự do như CPTPP, EVFTA … cũng đã được thiết kế trên các nền tảng này…

Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều nỗ lực và đã đạt được nhiều thành quả trên hành trình phát triển bền vững. Việt Nam đã ban hành chương trình quốc gia về phát triển bền vững, thành lập Hội đồng quốc gia về phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Các mục tiêu phát triển bền vững đã được lồng ghép, tích hợp trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, xét về môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh, thì Việt Nam xếp hạng không cao trong các bảng tổng sắp toàn cầu.

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), năm 2018, Việt Nam xếp thứ 69/190 về môi trường kinh doanh; còn theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Việt Nam xếp thứ 77/140 về năng lực cạnh tranh. Nhưng cũng trong năm 2018, Việt Nam đã xếp hạng 54/162 quốc gia lọt vào top 30% quốc gia dẫn đầu về phát triển bền vững và chỉ thua Thái Lan trong ASEAN. Như vậy, so với các nước có cùng trình độ phát triển, thì Việt Nam đang vượt lên trong "cuộc đua xanh”.

Nâng cao chất lượng nhân lực, tăng cường quan hệ công tư

Đó là hai trong nhiều giải pháp được ông Vũ Tiến Lộc đưa ra nhằm đẩy mạnh phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

Theo ông Vũ Tiến Lộc, đầu tiên, cần chú trọng năng cao chất lượng nguồn vốn nhân lực và năng suất. Ông đánh giá cao sự phối hợp giữa Ngân hàng Thế giới với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các cơ quan hữu quan xây dựng báo cáo về tương lai việc làm ở Việt Nam và khuyến nghị chính sách cần thiết. Nâng cao chất lượng nguồn lao động và tạo việc làm thoả đáng, bền vững chính là yêu cầu xuyên suốt quan trọng hàng đầu của việc cải thiện năng suất lao động ở Việt Nam.

Dự thảo Bộ luật Lao động đã mở rộng phạm vi điều chỉnh từ đối tượng lạo động có hợp đồng lao động trong khu vực chính thức (khoảng 20 triệu người) sang toàn bộ lực lượng lao động (55 triệu người trong độ tuổi lao động) ở nước ta. Đồng thời Luật doanh nghiệp mở rộng phạm vi, đưa các hộ kinh doanh, trước hết là các hộ kinh doanh có đăng ký vào phạm vi điều chỉnh của luật. Đó là những bước tiến quan trọng theo hướng minh bạch hoá, chính thức hoá, bảo đảm nâng cấp và kết nối được hộ kinh doanh với các loại hình doanh nghiệp khác và kết nối được khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, siêu nhỏ ở Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Ông Vũ Tiến Lộc cho rằng, Việt Nam đang rất cần sự cộng hưởng của các loại hình doanh nghiệp, các thành phần kinh tế, khu vực kinh tế, để tham gia chuỗi giá trị toàn cầu mà minh bạch hoá là chuẩn mực quan trọng nhất cho sự tương tác và cộng hưởng.

Đáng chú ý, về chất lượng của nguồn nhân lực ở Việt Nam, một thách thức quan trọng là Việt Nam chỉ có 8% lao động có trình độ đại học. 80% - 85% doanh nghiệp phàn nàn vì khó tuyển dụng lao động có kỹ năng quản trị và tay nghề kỹ thuật.

Vì vậy, Chủ tịch VCCI cho rằng, quốc sách về giáo dục cần được đẩy mạnh, đối tác công - tư (PPP) và vai trò của tư nhân trong lĩnh vực đào tạo cần phải đóng vai trò then chốt. Về nội dung đào tạo, cần đẩy mạnh phương thức giáo dục đào tạo nghề kép “gắn xưởng với trường” và rút ngắn thời gian đào tạo đại học chuyên ngành (ví dụ chỉ cần 2 năm) để bắt kịp xu thế thay đổi của công nghệ và đáp ứng nhanh yêu cầu về nguồn cung lao động chất lượng cao, chú trọng các chương trình ưu tiên STEAM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật, nghệ thuật và toán học).

“Vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã phát động phong trào năng suất quốc gia, VCCI sẽ thúc đẩy triển khai mạnh mẽ phong trào này trong cộng đồng doanh nghiệp. Hơn lúc nào hết, phong trào năng suất quốc gia cần được xác định là phong trào thi đua yêu nước có sức lan toả sâu rộng nhất trong tình hình mới”, ông Vũ Tiến Lộc  cho biết thêm.

Đáng chú ý ông Vũ Tiến Lộc nhấn mạnh về tăng cường quan hệ đối tác công tư hướng tới phát triển bền vững. Theo đại diện VCCI, đối tác công tư là một cơ chế mới để cộng sinh hài hoà giữa khu vực kinh tế tư nhân và nhà nước. Tư nhân chung tay với Nhà nước trong việc phát triển các cơ sở hạ tầng của nền kinh tế và trong mọi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Ở nước ta trong những năm tới, chỉ riêng nguồn vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng cần ít nhất 20 tỷ USD mỗi năm. Trong điều kiện mà nguồn vốn nhà nước hạn hẹp, ODA không còn, thì đối tác công tư và việc huy động nguồn vốn đầu tư từ khu vực tư nhân sẽ đóng vai trò quan trọng. Nhưng đối tác công tư không chỉ là sự chung tay giữa nhà nước và tư nhân trong phát triển cơ sở hạ tầng mà còn cần được mở rộng ra các lĩnh vực cung ứng dịch vụ công và thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp quan trọng đóng vai trò dẫn dắt và bảo đảm yêu cầu tự chủ của nền kinh tế. Mô hình kinh tế chia sẻ cũng cần được nghiên cứu áp dụng trong quan hệ nhà nước với tư nhân.

Để thúc đẩy PPP, đại diện VCCI đề nghị Quốc hội sớm ban hành luật PPP và tăng cường các thể chế xúc tiến, phát triển thị trường PPP, thành lập quỹ phát triển PPP quốc gia… Đó là những việc cần làm và phải được triển khai sớm. Uỷ ban Đối tác Công tư xin được kiến nghị Thủ tướng Chính phủ và các Uỷ ban Quốc gia chương trình hành động cụ thể theo hướng này. Bên cạnh những bài học chưa thành công về PPP, chúng ta cũng có những thực tiễn tốt về PPP trong cả nước, các mô hình “sở hữu công - quản trị tư”, “đầu tư tư - sử dụng công”, dịch vụ thuê ngoài … ở một số địa phương và bộ ngành cũng cần được tổng kết và lan toả.

Ông Vũ Tiến Lộc cũng đề nghị cần sớm nghiên cứu chiến lược thúc đẩy phát triển một số ngành kinh tế quan trọng có chọn lựa để áp dụng phương thức đối tác công tư trong nghiên cứu phát triển, trong đầu tư để làm bệ đỡ yểm trợ và thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta hướng tới yêu cầu phát triển bền vững./.

Minh Phương