Họa sĩ - nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn sinh năm 1929, mất năm 2016 tại Hà Nội. Năm 1944 ông vào học lớp dự bị tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Năm 1947 ông sáng tác ca khúc “Tiếng hát Đông Khê”, năm 1950 sáng tác ca khúc “Chiều hậu phương” ca ngợi cuộc sống ở các vùng quê mới giải phóng (Chiến dịch Tây Bắc).

Năm 2000 ông vinh dự được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật cho sáu ca khúc tiêu biểu: “Quê em”, “Biết ơn Võ Thị Sáu”, “Đào công sự”, “Nguyễn Viết Xuân cả nước yêu thương”, “Tình em biển cả” và “Chiều trên bến cảng”.

Không chỉ là tác giả của nhiều ca khúc nổi tiếng, Nguyễn Đức Toàn còn là một họa sĩ với khả năng đặc biệt trong "nghe" hình và màu giống như trong âm nhạc.

Tác phẩm "Chải tóc", chất liệu lụa, 1983. (Ảnh chụp lại tại triển lãm)

Triển lãm tranh của hoạ sĩ Nguyễn Đức Toàn trưng bày 60 bức tranh. Đây không phải là những tác phẩm xuất sắc nhất của ông nhưng sẽ giúp người xem thấy được tiến trình tiến triển trong hội họa của ông.

Nhà phê bình mỹ thuật Quang Việt, giám tuyển độc lập của bộ sưu tập tranh tư nhân về họa sĩ, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn cho biết, ở nước ta, có nhiều nhạc sĩ vẽ, nhưng dường như chỉ có 3 nhạc sĩ coi vẽ như nghề nghiệp thứ hai của mình là Văn Cao, Nguyễn Đình Phúc và Nguyễn Đức Toàn. Họ thực sự là những họa sĩ.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn đã được đào tạo về hội họa trước khi đến với âm nhạc. Ông học vẽ tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1944. Hơn thế, thừa hưởng dòng máu tạo hình ở người cha, cụ Nguyễn Đức Thụ, một nhà điêu khắc nổi tiếng nửa đầu thế kỷ 20, ngay trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Đức Toàn đã được xem như một họa sĩ.

Từ những năm 1980, nhạc sĩ hầu như chỉ chuyên tâm vào vẽ, vừa để thỏa lòng say mê, những ước vọng về hội họa ấp ủ đã lâu, mà cũng vừa để “sống” trong thời kỳ bao cấp quá khó khăn. Ông vẽ rất nhiều, vẽ bằng đủ các chất liệu, từ khắc gỗ, bột màu, mực nho, lụa cho đến sơn dầu, sơn mài. Thậm chí, vẽ sơn mài thiếu vóc, ông tự làm lấy vóc. Trong các họa sĩ- nhạc sĩ, ông là người sử dụng nhiều loại chất liệu nhất./.

Huy Lê