leftcenterrightdel
Đồng chí Nguyễn Tường Văn, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh 

 

Tham dự kỳ họp có các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy - HĐND tỉnh - UBND tỉnh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, 66 đại biểu HĐND tỉnh khóa XIV, nhiệm kỳ 2021 - 2026 và các đại biểu mời:Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị; Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Đại biểu Quốc hội khóa XV Đoàn Quảng Ninh; Đồng chí Vũ Hồng Thanh, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội khóa XIVcùng một số đại biểu Quốc hội khóa XV ứng cử trên địa bàn tỉnh; đại diện lãnh đạo một số cơ quan thuộc các Bộ, ban, ngành Trung ương; Thường trực Ủy ban MTTQ tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh; lãnh đạo các cơ quan tư pháp, các sở, ban, ngành của tỉnh, Thường trực cấp ủy, HĐND, UBND các huyện, thị xã, thành phố; Lãnh đạo Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam, Tổng công ty Đông Bắc, lãnh đạo cấp ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh; lãnh đạo, phóng viên một số cơ quan thông tấn, báo chí của Trung ương, của Tỉnh. 

Tại Kỳ họp, Hội đồng nhân dân tỉnh đã nghe và đánh giá tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm 2021; nghe Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh báo cáo kết quả tham gia công tác xây dựng chính quyền và ý kiến, kiến nghị cử tri 6 tháng đầu năm; xem xét các báo cáo, dự thảo nghị quyết theo luật định của Thường trực Hội đồng nhân dân (04 báo cáo, 05 dự thảo nghị quyết), Ủy ban nhân dân (05 báo cáo, 11 dự thảo nghị quyết) và 03 báo cáo của các cơ quan tư pháp (Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Cục Thi hành án dân sự tỉnh) và 21 báo cáo thẩm tra của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh. 

Chủ tọa kỳ họp đã dành thời gian thỏa đáng để đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và các đại biểu dự họp thảo luận tham gia đóng góp ý kiến vào các báo cáo, tờ trình và dự thảo nghị quyết. Qua thảo luận tại 05 tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và thảo luận tại Hội trường đã có 59 ý kiến phát biểu (trong đó: 39 ý kiến của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh; 20 ý kiến của đại biểu khách mời). 

Về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2021, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất cao đánh giá: Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, khó lường; song tỉnh đã luôn chủ động, linh hoạt, sáng tạo, quyết tâm, quyết liệt, thống nhất ý chí và hành động, kiên trì thực hiện thành công phương châm “3 trước”, “4 tại chỗ”, tích cực, chủ động, từ xa, từ sớm, từ cơ sở, kiên cường vượt qua các làn sóng dịch, trụ vững, giữ yên địa bàn “An toàn - Ổn định trong trạng thái bình thường mới”, chăm lo bảo vệ sức khỏe nhân dân, giảm thiểu ảnh hưởng tới đời sống xã hội, nhanh chóng khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội. Tăng trưởng kinh tế GRDP 6 tháng đầu năm 2021 đạt 8,02% (cùng kỳ tăng 4,26%), là mức tăng trưởng cao. Tổng thu ngân sách nhà nước đạt 23.125 tỷ đồng, bằng 45% dự toán, 97% kịch bản, trong đó thu nội địa đạt 18.123 tỷ đồng, bằng 46% dự toán, tăng 4% kịch bản. Môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện, lần đầu tiên năm 2020 dẫn đầu cả nước đồng thời 4 chỉ số PCI, PAR Index, SIPAS, PAPI. An sinh xã hội được đặc biệt quan tâm. Công tác quản lý nhà nước được tăng cường. Quốc phòng - an ninh, chính trị - xã hội được đảm bảo. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 được tổ chức thành công trên mọi phương diện, bảo đảm dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, an ninh, an toàn, tiết kiệm, thực sự là ngày hội của toàn dân với tỷ lệ cử tri đi bầu cao, đạt 99,95%. Niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ được củng cố và tăng cường. Đồng thời, thẳng thắn chỉ ra những tồn tại, hạn chế, yếu kém, nguyên nhân và trách niệm của những hạn chế; nhận diện những khó khăn thách thức, cơ hội để đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm 2021. 

Chú trọng bám sát các quy định của pháp luật, định hướng chỉ đạo Tỉnh ủy, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh đã tham gia đề xuất nhiều nội dung thiết thực vào Nghị quyết về các cơ chế, biện pháp, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả thu chi ngân sách nhà nước, quản lý hiệu quả vốn đầu tư công, nâng cao hiệu quả quản lý đất đai… Đặc biệt quan tâm đề xuất các giải pháp, nguồn lực cho chương trình tổng thể phát triển bền vững kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh ở các xã, thôn, bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030; trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khó khăn khác trên trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh… nhằm cụ thể hóa chủ trương của Trung ương, Tỉnh ủy về nhanh chóng thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và chênh lệch vùng miền, bảo đảm an sinh xã hội, tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng sống mọi mặt của Nhân dân. 

Trên cơ sở ý kiến thảo luận của đại biểu, Chủ tọa kỳ họp đã điều hành thông qua 16 nghị quyết với sự thống nhất của 100% đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh dự họp, thể hiện rõ trách nhiệm trước Đảng bộ, chính quyền, cử tri và Nhân dân toàn tỉnh

(1)Về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm 2021

Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất giữ nguyên mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GRDP năm 2021 đạt hai con số, thu ngân sách nhà nước cả năm không thấp hơn 51.000 tỷ đồng, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt trên 55.000 tỷ đồng. 

Đồng thời, đề ra 09 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâmnhằm: Giữ vững thành quả phòng, chống dịch COVID-19, duy trì địa bàn “An toàn - Ổn định trong trạng thái bình thường mới”; thực hiện nghiêm túc các chính sách cho người dân, người sử dụng lao động chịu ảnh hưởng từ đại dịch. Giữ vững sức sản xuất của các trụ cột đảm bảo hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2021, tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong sản xuất kinh doanh, tiêu thụ Than và tìm kiếm thị trường đầu ra cho sản phẩm gắn với việc huy động sản lượng điện đối với các nhà máy nhiệt điện trên địa bàn tỉnh. Đẩy mạnh thu hút đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để tăng sản lượng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, thực sự là động lực tăng trưởng; tận dụng mọi cơ hội an toàn dịch bệnh để tái phục hồi ngành dịch vụ, du lịch; phát triển tối đa ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản;Tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính ngân sách nhà nước; tập trung khai thác nguồn thu, nhất các khoản thu từ đất gắn với từng dự án, ô đất, thửa đất cụ thể; các khoản thu thuế, phí. Thực hiện nghiêm nguyên tắc “có thu thì mới có chi” và phải bảo đảm ưu tiên cân đối cho nhiệm vụ chi thường xuyên và chi an sinh xã hội; Quản lý chặt chẽ đầu tư công; kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện các dự án vốn đầu tư công. Phấn đấu chậm nhất đến 31/12/2021 tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt 100% kế hoạch vốn được giao từ đầu năm, trong đó đến hết quý III/2021 giải ngân đạt tối thiểu 80% kế hoạch vốn; Tập trung nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ chậm nhất đến ngày 01/01/2022, khánh thành 03 công trình trọng điểm: đường cao tốc Vân Đồn - Móng Cái, đường ven biển Hạ Long - Cẩm Phả, cầu Cửa Lục 1. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý, thu hút đầu tư vào các khu kinh tế, khu công nghiệp. Giữ vững vị trí nhóm đầu về các chỉ số PCI, PAR Index, SIPAS và PAPI; chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, hỗ trợ chuyển đổi hộ cá nhân sản xuất, kinh doanh thành doanh nghiệp, phấn đấu thành lập mới trên 1.000 doanh nghiệp để đạt mục tiêu thành lập trên 2.000 doanh nghiệp trong năm 2021. Thực hiện có hiệu quả đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với tăng nhanh quy mô và nâng cao chất lượng dân số; Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về quy hoạch, xây dựng, đô thị, đất đai, tài nguyên, môi trường, than, khoáng sản… Chú trọng công tác lập và quản lý các quy hoạch gắn với rà soát kế hoạch sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả với tầm nhìn dài hạn, trọng tâm là trong quý III/2021, hoàn thành Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Hạ Long đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050, Quy hoạch KKT ven biển Quảng Yên; hoàn thành Quy hoạch mở rộng KCN Đông Mai trong quý IV/2021; Chăm lo phát triển văn hóa, xã hội, con người, bảo đảm an sinh xã hội, gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, chệnh lệch vùng miền; Bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chủ quyền biên giới quốc gia; mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế. Tăng cường đối thoại, nắm bắt tình hình dư luận, tập trung giải quyết dứt điểm các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo, phản ánh chính đáng của nhân dân ngay từ cơ sở, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2021. 

(2) Nghị quyết phê duyệt Chương trình tổng thể phát triển bền vững kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh ở các xã, thôn, bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030 

Nghị quyết này cụ thể hóa chủ trương Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV và Nghị quyết số 06-NQ/TU để có các giải pháp, cơ chế, chính sách thiết thực, hiệu quả thúc đẩy phát triển toàn diện kinh tế- xã hội cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo giai đoạn 2021 - 2025, trong đó tập trung ưu tiên địa bàn 25 xã và 24 thôn mới hoàn thành Chương trình 135, ra khỏi diện đặc biệt khó khăn giai đoạn 2016 - 2020 đối với 03 nhóm đối tượng: (i1) Xã, thôn, bản thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo của tỉnh Quảng Ninh; (i2) Hộ gia đình, cá nhân người dân tộc thiểu số. Hộ gia đình, cá nhân người dân tộc Kinh thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo sinh sống ở các xã, thôn, bản thuộc vùng phạm vi Chương trình; (i3) Doanh nghiệp, hợp tác xã, các tổ chức kinh tế - xã hội đầu tư và hoạt động ở địa bàn các xã, thôn, bản thuộc vùng phạm vi Chương trình. Nghị quyết đưa ra mục tiêu chung và 08 nhóm mục tiêu cụ thể đến năm 2025, 03 nhóm mục tiêu định hướng đến năm 2030 tập trung vào các chỉ tiêu về giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân; chỉ tiêu về giáo dục, y tế, lao động và việc làm; văn hóa thông tin; giải quyết các vấn đề cấp thiết về an sinh xã hội; thu hẹp khoảng cách chênh lệch vùng miền.

leftcenterrightdel
 Quang cảnh kỳ họp

07 nhóm giải pháp toàn diện trong đó ưu tiên, tập trung phát triểnhạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, kết nối liên thông, tổng thể, nhất là các tuyến giao thông huyết mạch, có tính động lực; tập trung đầu tư các công trình thực sự cấp bách, thiết yếu về y tế, giáo dục, viễn thông, nước sản xuất, nước sinh hoạt, xử lý các điểm ngập lụt trên các tuyến tỉnh lộ huyết mạch, hạ tầng các điểm di dân tập trung khu vực biên giới, xây dựng 11 nhóm cơ chế, chính sách mớiliên quan đến chăm lo, hỗ trợ cho học sinh các cấp học, chăm lo đời sống cho đội ngũ giáo viên, cán bộ y tế, lực lượng vũ trang vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo; hỗ trợ cho lao động, giải quyết việc làm; xây dựng các mô hình phát triển sản xuất phù hợp; cơ chế, chính sách ưu đãi, thu hút các doanh nghiệp, dự án đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn... Dự kiến tổng nguồn lực từ ngân sách địa phương để thực hiện chương trình khoảng 4000 tỷ đồng chưa kể các nguồn lực huy động hợp pháp khác. 

(3) Nghị quyết "Chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khó khăn khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh"

Căn cứ vào các quy định của nhà nước, các chính sách riêng của tỉnh đang triển khai và khả năng cân đối đảm bảo khả năng cân đối của ngân sách địa phương với lộ trình cụ thể trong bối cảnh ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất: Nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh theo 02 giai đoạn: 450.000đ/tháng (từ ngày 01/8/2021 – 31/12/2022); 500.000đ/tháng (từ ngày 01/1/2023) đối với các đối tượng thụ hưởng được quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ và Nghị quyết số 47/2016/NQ-HĐND, Nghị quyết số 229/2019/NQ-HĐND, Nghị quyết số 309/2020/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh. Đồng thời, bổ sung thêm 02 đối tượng:Trẻ em dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, Người cao tuổi: Người từ đủ 75 tuổi đến dưới 80 tuổi không có lương hưu, không có trợ cấp bảo hiểm xã hội, không có trợ cấp xã hội hằng tháng khác, bao gồm các nội dung trợ giúp sau: (i1) Trợ cấp xã hội hằng tháng; (i2) Hỗ trợ mua thẻ Bảo hiểm y tế; Hỗ trợ chi phí khám, chữa bệnh; (i3) Hỗ trợ học phí và chi phí học tập cho trẻ đang đi học; (i4) Hỗ trợ chi phí mai táng; (i5) Hỗ trợ đột xuất: Hỗ trợ chi phí điều trị người bị thương nặng; Hỗ trợ làm nhà ở, sửa chữa nhà ở; Hỗ trợ lương thực; (i6) Hỗ trợ một số nội dung đặc thù khác: Hỗ trợ sau thoát nghèo; hỗ trợ vật dụng sinh hoạt cho đối tượng tại cơ sở bảo trợ xã hội. 

(4) Nghị quyết về việc điều chỉnh, phân bổ dự toán ngân sách cấp tỉnh

Quyết nghị điều chỉnh: Giảm 177.645 triệu đồng các khoản chi thường xuyên đã hết nhiệm vụ chi hoặc không còn nhu cầu để bổ sung tăng chi các các nhiệm vụ phát sinh, trong đó bao gồm kinh phí thực hiện Nghị quyết "Quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khó khăn khác trên trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh" được HĐND tỉnh thông qua tại kỳ họp này; Phân bổ 508.500 triệu đồng dự toán chi thường xuyên cho các địa phương để mua sắm thiết bị lớp 1, 2, 6 theo chương trình cải cách giáo dục phổ thông mới; cải tạo, sửa chữa cơ sở vật chất nhằm phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu: 100% các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh có nhà vệ sinh đạt chuẩn; phòng học an toàn; Giảm 581.155 triệu đồng kế hoạch vốn của 13 dự án không đảm bảo yêu cầu giải ngân để dự nguồn phân bổ cho Dự án đường ven sông kết nối từ đường cao tốc Hạ Long – Hải Phòng đến thị xã Đông Triều, đoạn từ đường tỉnh 338 đến thị xã Đông Triều (giai đoạn 1); phân bổ 176.787 triệu đồng nguồn thanh toán nợ đọng XDCB và vốn chuẩn bị đầu tư; Bổ sung 23.177 triệu đồng kế hoạch trả nợ, lãi vốn vay nước ngoài từ nguồn kết dư ngân sách cấp tỉnh năm 2020.

(5) Nghị quyết về phê duyệt điều chỉnh chủ trương đầu tư một số dự án trong kế hoạch đầu tư công

Quyết nghị điều chỉnh chủ trương đầu tư 14 dự án đầu tư công trong đó điều chỉnh chủ đầu tư thực hiện dự án đối với 07 dự án thuộc lĩnh vực y tế; Điều chỉnh gia hạn 01 năm đối với 03 dự án và điều chỉnh quy mô, tổng mức đầu tư, cơ cấu nguồn vốn, thời gian thực hiện đối với 02 dự án. 

(6) Nghị quyết về việc thông qua danh mục các dự án thu hồi đất , có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất và quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác đợt 3 trên địa bàn tỉnh năm 2021.

Bao gồm: Danh mục 39 dự án, công trình thu hồi đất theo quy định tại khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 với tổng diện tích 1.102,16 ha; Danh mục 14 dự án, công trình có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng 26,27 ha đất trồng lúa; 04 dự án công trình cần chuyển mục đích 5,69 ha đất rừng phòng hộ; 01 dự án công trình cần chuyển mục đích 0,15 ha đất rừng đặc dụng theo quy định tại Điều 58, Luật Đất đai năm 2013; Chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác để thực hiện 05 dự án, công trình theo quy định tại khoản 3 Điều 20 Luật Lâm nghiệp năm 2017.

(7)Đối với 09 nghị quyết còn lại đã được Hội đồng nhân tỉnh thông qua như Quy chế bảo vệ bí mật nhà nước, nội quy kỳ họp của Hội đồng nhân dân tỉnh; kết quả giám sát giải quyết kiến nghị của cử tri... đây là những nội dung có tính nguyên tắc bảo đảm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh, việc chấp hành pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan chức năng. 

Tiếp tục đổi mới hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn theo hình thức hỏi nhanh - đáp gọn, đi thẳng vào vấn đề và có tranh luận, làm rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành, nhất là của người đứng đầu trong chấp hành pháp luật để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh. Chủ tọa kỳ họp đã lựa chọn 02 nhóm vấn đề được dư luận, cử tri và nhân dân quan tâm để thực hiện chất vấn trực tiếp: Công tác giải phóng mặt bằng, tiếp công dân và giải quyết khiếu nại tố cáo; Công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 và triển khai chiến lược văc-xin cho Nhân dân. 

Các đồng chí Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy viên Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc sở Tài Chính, Sở Y tế, Chánh Thanh tra tỉnh, và người đứng đầu một số địa phương đã nghiêm túc, thẳng thắn, trách nhiệm trong trả lời đại biểu. Đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh thay mặt Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp thu và báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh những giải pháp trong thời gian tới nhằm khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh.  

Trên cơ sở trả lời chất vấn, giải trình tại kỳ họp, Chủ tọa đã đề nghị giải quyết hài hòa vấn đề lợi ích của nhà nước, nhà đầu tư, người dân theo quy định của Đảng, pháp luật của nhà nước theo nguyên tắc làm đúng ngay từ đầu, công khai, minh bạch, dân chủ công bằng, kịp thời. Qua phiên chất vấn, chủ tọa hướng phiên họp đi thẳng vào những nổi cộm, nguyên nhân của vấn đề và kết luận rõ ràng trách nhiệm của của từng tập thể, cá nhân, quy định thời gian để sớm khắc phục những tồn tại, hạn chế, giải quyết những vấn đề bất cập được đại biểu chất vấn tại kỳ họp, đồng thời thông tin đến cử tri và nhân dân về chiến lược tiêm vacine của tỉnh. Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất thông qua Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn để Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ngành thực hiện và báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh về kết quả thực hiện tại Kỳ họp thường lệ cuối năm 2022 theo quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.   .   

 

 

PV