Đồng chí Nguyễn Tường Văn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh nhấn mạnh nội dung này khi trả lời phóng viên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam về nhiệm vụ trọng tâm để đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020 – 2025 thành chương trình, hành động cụ thể.

Đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển, tầm nhìn

Phóng viên (PV): Trong nhiệm kỳ 2015-2020 có thể thấy kinh tế Quảng Ninh liên tục tăng trưởng cao và ổn định, đặc biệt trong điều kiện bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng của đại dịch COVID - 19 vẫn đạt cao hơn so với bình quân chung cả nước. Xin đồng chí chia sẻ đâu là yếu tố dẫn đến thành công trên?

Đồng chí Nguyễn Tường Văn: Nhìn lại chặng đường 2015 - 2020, bên cạnh những điều kiện thuận lợi, còn có những khó khăn, thách thức, nhất là năm 2020 đại dịch COVID-19 xuất hiện, đã ảnh hưởng trực tiếp đến nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và đời sống của người dân. Kế thừa, phát huy, tiếp nối thành tựu của nhiệm kỳ trước, UBND tỉnh Quảng Ninh bám sát thực tiễn, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo điều hành quyết liệt, tranh thủ những thời cơ, khắc phục khó khăn; năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong tổ chức thực hiện; cùng với sự cố gắng, nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân; nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đã đạt được những thành tựu nổi bật, quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực.

Cụ thể: Kinh tế liên tục tăng trưởng cao và ổn định; tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 10,7%, cơ bản đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XIV đề ra trong điều kiện bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng của đại dịch COVID-19, cao hơn so với bình quân chung cả nước. Chất lượng tăng trưởng được cải thiện đáng kể; quy mô, tiềm lực của nền kinh tế tăng lên rõ rệt; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng bền vững; dịch vụ, du lịch ngày càng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh”. Thực hiện ba đột phá chiến lược có trọng tâm, trọng điểm, đạt nhiều kết quả quan trọng; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng giao thông, đô thị, du lịch, dịch vụ được đầu tư đồng bộ, hiện đại và có bước đột phá. Môi trường đầu tư kinh doanh không ngừng được cải thiện nằm trong nhóm đứng đầu cả nước; cải cách hành chính có bước đột phá, tạo chuyển biến căn bản, thúc đẩy có hiệu quả đầu tư theo hình thức đối tác công - tư, thu hút được nguồn lực ngoài ngân sách lớn - nguồn động lực đột phá mạnh mẽ cho đầu tư phát triển. Chủ động phát triển nguồn nhân lực gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động theo định hướng, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.

leftcenterrightdel
Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh thời gian qua, nhất là hạ tầng giao thông, đô thị, du lịch, dịch vụ được đầu tư đồng bộ, hiện đại và có bước đột phá.  Ảnh: Đ.Phương

Gắn kết chặt chẽ giữa các mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, đảm bảo an sinh, phúc lợi, tiến bộ và công bằng xã hội; diện mạo thành thị và nông thôn thay đổi rõ rệt; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân tiếp tục được cải thiện và nâng cao, nhất là tại các khu vực đặc biệt khó khăn, nông thôn, miền núi, biên giới, biển đảo. GRDP bình quân đầu người năm 2020 ước đạt trên 6.700 USD, gấp hơn 2 lần bình quân chung cả nước; tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí đa chiều chỉ còn 0,36%.

Bên cạnh đó, chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh được bảo đảm, chủ quyền biên giới, biển đảo quốc gia được giữ vững, không để xảy ra các tình huống bị động, bất ngờ; xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển… Qua đó, vị thế và uy tín của tỉnh Quảng Ninh được nâng cao.

Để đạt được những kết quả nổi bật trên, tôi cho rằng những yếu tố cơ bản dẫn đến thành công trong phát triển kinh tế của Quảng Ninh là:

Đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển, tầm nhìn; đảm bảo sự nhất quán, ổn định, kế thừa, đổi mới và phát triển. Phát triển dựa vào nguồn lực bên trong là quyết định, chiến lược, cơ bản lâu dài và nguồn lực bên ngoài là quan trọng, đột phá; lấy phát triển con người, đảm bảo và cải thiện dân sinh làm mục đích; lấy đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế xanh, các ngành mới nổi và tăng năng suất lao động làm định hướng; lấy phát triển hạ tầng, cải cách hành chính đồng bộ, hiện đại làm nền tảng; lấy phát triển giáo dục đào tạo, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới sáng tạo và ứng dụng khoa học công nghệ làm động lực; lấy phát triển văn hóa, xây dựng văn minh sinh thái, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường làm trọng điểm.

Cùng với đó, chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh” theo hướng bền vững dựa vào ba trụ cột: Thiên nhiên, con người, văn hóa kết hợp với xu thế hòa bình, hợp tác, hội nhập và cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Kiên trì thực hiện tổ chức không gian phát triển “một tâm, hai tuyến đa chiều và hai mũi đột phá” nhằm bảo đảm mục tiêu liên kết, đồng bộ để phát huy thế mạnh của từng địa phương trong tỉnh cũng như thế mạnh của Tỉnh trong Vùng đồng bằng sông Hồng và Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Trong đó, Tâm là thành phố Hạ Long, trung tâm chính trị - hành chính - kinh tế - văn hóa của Tỉnh; phát triển đô thị theo mô hình đa cực, lấy vịnh Cửa Lục làm trung tâm kết nối. Tuyến hành lang phía Tây xuất phát từ Hạ Long đến Đông Triều hướng tới đồng bằng sông Hồng và thủ đô Hà Nội; phát triển chuỗi đô thị - công nghiệp xanh, công nghiệp sạch, công nghệ cao và du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh; trong đó Khu kinh tế ven biển Quảng Yên là hạt nhân, động lực tăng trưởng mới của tuyến phía Tây và của tỉnh, phát triển theo mô hình “Thành phố thông minh” với các khu đô thị - công nghiệp - dịch vụ - cảng biển thông minh, hiện đại. Tuyến hành lang phía Đông xuất phát từ Hạ Long đến Móng Cái và hướng tới thị trường Đông Bắc Á; phát triển chuỗi đô thị sinh thái - dịch vụ, thương mại, du lịch tổng hợp cao cấp, nông nghiệp sạch - công nghệ cao và kinh tế biển; lấy phát triển công nghiệp để dẫn dắt nông nghiệp. Phát triển Khu kinh tế Vân Đồn và Khu kinh tế Cửa khẩu Móng Cái là hai mũi đột phá.

Tiếp tục đổi mới nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cấp chính quyền. Giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất; phát huy dân chủ, kỷ cương và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, truyền thống cách mạng, văn hóa, sự năng động và khát vọng đổi mới, sáng tạo, ý chí tự lực, tự cường, vượt lên mạnh mẽ và bền vững.

PV: Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đề ra mục tiêu xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, là một trong những trung tâm phát triển năng động, toàn diện của phía Bắc. Để đưa Nghị quyết vào cuộc sống, thời gian qua, UBND tỉnh Quảng Ninh đã triển khai những nhiệm vụ, giải pháp đột phá nào, thưa đồng chí?

Đồng chí Nguyễn Tường Văn: Để thực hiện thắng lợi mục tiêu của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV và Chương trình hành động số 01-CT/TU ngày 09/10/2020 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020 - 2025, UBND tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Chương trình hành động số 35/Ctr-UBND ngày 08/02/2021 triển khai cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV; đã và đang triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đột phá để hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội năm 2021:

Triển khai quyết liệt, có hiệu quả các biện pháp phòng, chống và giảm thiểu thiệt hại từ đại dịch COVID-19 và các dịch bệnh khác, giữ vững địa bàn an toàn.

Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp, tăng nhanh tỷ trọng đóng góp của công nghiệp chế biến, chế tạo vào GRDP và thu ngân sách; phát triển hợp lý, bền vững ngành công nghiệp khai khoáng, trọng tâm là ngành Than. Triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 01-NQ/TU, ngày 16/11/2020 của Tỉnh ủy về phát triển nhanh, bền vững ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2021- 2025, định hướng đến năm 2030; thu hút vốn đầu tư, phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo trở thành động lực, tạo đột phá tăng trưởng kinh tế và thu ngân sách. Phát triển các khu kinh tế (Quảng Yên, Móng Cái, Vân Đồn), khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh thực sự là động lực tăng trưởng.

Phát triển dịch vụ, du lịch ngày càng giữ vai trò chủ đạo, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu GRDP của tỉnh; duy trì chính sách kích cầu du lịch đủ mạnh, khai thác hiệu quả tối đa thị trường khách nội địa và sẵn sàng đón khách quốc tế khi điều kiện cho phép; phấn đấu năm 2021 thu hút được 10 triệu lượt khách du lịch. Đẩy mạnh liên kết hàng không, du lịch, điểm đến, doanh nghiệp; tăng cường liên kết vùng. Phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, nguồn nhân lực du lịch, sản phẩm du lịch có chất lượng, đa dạng, khác biệt, có lợi thế của du lịch Quảng Ninh gắn với các khu vực động lực, phát triển du lịch (Hạ Long, Vân Đồn, Uông Bí, Móng Cái). Phát triển du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp, du lịch sinh thái, nhất là ở Bình Liêu, Đông Triều. Khai thác đồng bộ, hiệu quả hạ tầng cảng biển gắn với các dịch vụ hỗ trợ logistics, trọng điểm là cảng Hòn Nét - Con Ong, Nam Tiền Phong, Bắc Tiền Phong, Đầm Nhà Mạc, cảng biển Hải Hà, cảng tàu khách quốc tế Hòn Gai, Tuần Châu...

Tập trung phát triển tối đa ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản, đặc biệt là nghề nuôi biển theo quy hoạch bền vững; nâng cao năng lực chế biến các sản phẩm nông, lâm, thủy sản, xác nhận xuất xứ và nguồn gốc sản phẩm, hệ thống logistics, kho tàng, bảo quản tiêu chuẩn, đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông sản chính ngạch…

Tập trung phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao

PV: Một trong những đột phá chiến lược đề ra tại Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt …”. Là người đứng đầu UBND tỉnh Quảng Ninh, theo đồng chí điều này có ý nghĩa như thế nào trong bối cảnh hiện nay để tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết và xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại?

Đồng chí Nguyễn Tường Văn: Nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, Đảng và Nhà nước ta càng đặc biệt coi trọng việc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Có thể thấy phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trong giai đoạn hiện nay, có ý nghĩa rất lớn và đóng vai trò vô cùng quan trọng, vì đây là chủ thể xây dựng các cơ chế, chính sách, đưa ra các dự báo cơ hội, thách thức và những giải pháp thực hiện có tính chất quyết định đến sự phát triển của đất nước. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý phải đủ tâm, đủ tầm, có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành tổ chức thực hiện. Do vậy, để Nghị quyết XIII của Đảng được triển khai có hiệu quả và đi vào thực tiễn cuộc sống, các cấp, các ngành phải có giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt và đồng bộ, đặc biệt là vai trò của người đứng đầu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện.

leftcenterrightdel
Đồng chí Nguyễn Tường Văn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh làm việc với Thành ủy Cẩm Phả. Ảnh: TH.

Đối với tỉnh Quảng Ninh, với tầm nhìn chiến lược, xác định nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba đột phá chiến lược để thúc đẩy sự phát triển nhanh, bền vững. Ngay từ năm 2014, Tỉnh ủy Quảng Ninh đã ban hành và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 15-NQ/TU ngày 09/6/2014 “về đẩy mạnh cải cách hành chính và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tỉnh Quảng Ninh” và UBND tỉnh đã ban hành Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Từ năm 2015, tập trung triển khai Đề án "Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng và phát triển toàn diện nguồn nhân lực tỉnh đến năm 2020” (gọi tắt là Đề án 293) với phạm vi, quy mô toàn tỉnh, bao phủ toàn diện về đối tượng đào tạo, bồi dưỡng. Qua 5 năm triển khai Đề án, tỉnh Quảng Ninh đã tổ chức 702 lớp đào tạo, bồi dưỡng cho 39.577 lượt học viên, trong đó: đào tạo, bồi dưỡng trong nước 571 lớp, với 35.542 lượt học viên; đào tạo, bồi dưỡng trong nước mời giảng viên nước ngoài 77 lớp, với 2.774 lượt học viên; đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài 54 lớp, với 1.261 lượt học viên. Đội ngũ cán bộ đương chức và trong quy hoạch các chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, cấp sở và cấp phòng của tỉnh cơ bản đã được chuẩn hóa về trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, tin học, ngoại ngữ theo yêu cầu tiêu chuẩn chức danh và vị trí việc làm.

Công tác cán bộ đã bám sát chủ trương, quan điểm Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước gắn với nhiệm vụ chính trị của địa phương. Triển khai thực hiện nghiêm túc, đảm bảo các nguyên tắc, quy trình, thủ tục trong công tác cán bộ; rà soát, tăng cường lãnh đạo kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và xử lý các khuyết điểm, vi phạm; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ. Chủ động, đi đầu trong triển khai thí điểm nhiều mô hình mới như: Nhất thể hóa một số chức danh (Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch HĐND hoặc Chủ tịch UBND ở một số địa phương cấp huyện; Trưởng Ban Dân vận đồng thời là Chủ tịch Ủy ban MTTQ…); tổ chức thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý; đại hội bầu trực tiếp Bí thư cấp ủy.

Tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020-2025, tỉnh Quảng Ninh tiếp tục xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với tăng nhanh quy mô và nâng cao chất lượng dân số là một trong 3 khâu đột phá chiến lược, coi đây là yếu tố quan trọng, là nền tảng vững chắc để tạo đà cho sự phát triển bền vững của tỉnh trong giai đoạn mới.

Theo đó, tỉnh Quảng Ninh đề ra các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhất là cán bộ quản lý và người đứng đầu các cấp thực tài, có tính chuyên nghiệp, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, tận tụy phục vụ Nhân dân; nâng cao năng lực, trình độ, đạo đức công vụ, trách nhiệm giải trình. Phát huy dân chủ, đoàn kết, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu song hành với kiến tạo môi trường đổi mới, đột phá, sáng tạo trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; thu hút trọng dụng nhân tài; xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân vi phạm.

Trong thời gian tới, tỉnh Quảng Ninh tiếp tục dành sự quan tâm, đầu tư thỏa đáng để phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó chỉ đạo việc xây dựng Đề án phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn đến năm 2030 để tiếp tục có nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đã đề ra trong thời gian tới.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!

Thu Hằng (thực hiện)