Về tư duy lí luận của đồng chí Đào Duy Tùng trong hoạt động thông tin - báo chí, văn hóa - văn nghệ

Chủ nhật, 07/04/2024 15:15
0:00/ 0:00
Giọng nữ
  • Giọng nữ
(ĐCSVN) - Đã tròn 26 năm, nhà tư tưởng, nhà lý luận, nhà báo Đào Duy Tùng vĩnh biệt chúng ta. Độ lùi thời gian càng xa, càng ngời lên những đóng góp quan trọng và quý báu của Ông trên mặt trận tư tưởng, lý luận của Đảng.
Đồng chí Đào Duy Tùng trong một chuyến công tác ở Yên Bái năm 1993.   

I. Thế nào là tư duy lý luận?

Tư duy lý luận là quá trình con người phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, mang tính trừu tượng và khái quát cao bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật; từ đó, tìm ra các quy luật vận động nội tại tiềm ẩn trong khách thể nhận thức của con người.

Tư duy lý luận có những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, sự xuất hiện của tư duy lý luận gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người. Thứ hai, tư duy lý luận phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, là sự sản sinh ra những tri thức mới trên cơ sở những tri thức kinh nghiệm đã tích lũy được trong quá trình nhận thức. Thứ ba, tư duy lý luận sử dụng các phương pháp nhận thức, như: lịch sử và lôgic; phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn dịch; trừu tượng hóa và cụ thể hóa v.v, làm cho các phương pháp này trở thành nội dung lôgic bên trong của sự vận động tri thức để nhận thức hiện thực khách quan. Thứ tư, đối tượng mới của tư duy lý luận là những vấn đề mới do thực tiễn đặt ra. Tư duy lý luận phải có nhiệm vụ trả lời những câu hỏi, đặc biệt là những vấn đề bức xúc, mà cuộc sống đặt ra cho con người và xã hội loài người hôm nay.

Tư duy lý luận đóng một vai trò hết sức to lớn trong nhận thức và cải tạo thế giới. Nhờ có tư duy lý luận khoa học, con người mới phát hiện được các quy luật vận động và phát triển của hiện thực khách quan, hướng sự vận động đó vào phục vụ lợi ích của con người. Ph.Ăngghen chỉ rõ rằng: “một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”.

Với sự xuất hiện các tác phẩm thiên tài của Mác và Ăngghen, tư duy lý luận khoa học, tư duy lý luận mácxít được hình thành có hệ thống. Đây là một hình thái tư duy ra đời trên cơ sở tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn, những tri thức khoa học mà loài người đã đạt được từ xưa đến nay và luôn luôn được vận dụng vào phân tích thực tiễn sinh động, phong phú để tìm ra các quy luật, các phương thức hoạt động thực tiễn, phục vụ lợi ích con người.

Điểm qua nội hàm và đặc thù như trên, chúng ta thấy rằng, một người được gọi là có tư duy lý luận không chỉ là có “tài năng bẩm sinh”, mà còn là quá trình trải nghiệm dài trong thực tiễn công tác, đam mê với việc nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để rút ra những quy luật vận động của xã hội, hay nói cách khác là tìm ra bản chất, phương thức, bước đi để đạt tới mục tiêu của cách mạng nước ta. Một trong những người có phẩm chất đó là đồng chí Đào Duy Tùng. Ông đã có những đóng góp quan trọng vào việc hình thành tư duy đổi mới của Đảng ta.

Trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, Đảng ta đã đề ta Cương lĩnh đổi mới toàn diện đất nước qua Đại hội VI năm 1986, trong đó nhấn mạnh “phải đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy”, coi đổi mới tư duy là khâu “đột phá” cho toàn bộ quá trình đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tại Đại hội VI (12-1986), Đảng ta khẳng định: “Để tăng cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn của mình, Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác”.

Theo hướng đó, Đảng ta đồng thời coi trọng việc đổi mới tư duy lý luận, tạo ra bước phát triển mới, góp sức tích cực vào công tác xây dựng, bổ sung, hoàn thiện đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, “Chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận chưa cao... Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới”. Để khắc phục tình trạng đó, tại Đại hội XII, Đảng ta xác định một trong những nhiệm vụ trước mắt là: “Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”.

II. Đóng góp của đồng chí Đào Duy Tùng về lý luận trên lĩnh vực thông tin – báo chí, văn hóa - văn nghệ

Đánh giá về những cống hiến to lớn, nhân kỷ niệm ngày giỗ đầu đồng chí Đào Duy Tùng, Tổng Bí thư Đỗ Mười viết: “Thời gian công tác dài nhất của đồng chí Đào Duy Tùng là ở cơ quan Trung ương, hơn 30 năm làm công tác tư tưởng, lý luận của Đảng, suốt từ tháng 5-1955 đến năm 1998, khi đồng chí vĩnh biệt chúng ta.

Trong ngành tuyên huấn, đồng chí đã lần lượt giữ cương vị Phó Vụ trưởng, Vụ trưởng Vụ Huấn học, Phó Trưởng ban kiêm Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, Viện trưởng Viện Mác Lê-nin và Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương. Đồng chí liên tục được bầu 4 khóa vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, từ Đại hội IV, Đại hội V, Đại hội VI và Đại hội VII, trong đó, 2 khóa được bầu là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng.

Hầu hết quãng thời gian hoạt động ở Trung ương, khi được phân công phụ trách tuyên huấn, đồng chí dành nhiều công sức cho nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn công tác tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị và đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh sắc bén, nghiêm túc, có hiệu quả chống lại các quan điểm trái với đường lối, quan điểm của Đảng.

Các bài phát biểu của đồng chí bao giờ cũng tiêu biểu cho quan điểm chung của Đảng và được trình bày rất sáng sủa, có sức thuyết phục cao.

Đồng chí Đào Duy Tùng là một nhân vật có tư tưởng đổi mới, luôn luôn tìm tòi, sáng tạo những nhân tố mới để vượt lên mình. Đồng chí cũng là một trong những người tham gia đổi mới từ những năm 1980, cùng với các lần "khoán thử" ở Vĩnh Phúc, Hải Phòng, "khoán 100" rồi "khoán 10", đến Cương lĩnh đổi mới sau này” (Trích bài đăng trên báo Nhân Dân và nhiều báo, tạp chí khác).

Như vậy, những đóng góp của đồng chí Đào Duy Tùng trên lĩnh vực công tác tư tưởng – lý luận là rất rộng và to lớn. Trong phạm vi bài này, tôi chỉ xin được khoanh lại ở lĩnh vực thông tin - báo chí, văn hóa - văn nghệ.

1. Trong lĩnh vực thông tin – báo chí

Để đổi mới tư duy lý luận, Ông đặc biệt quan tâm tới vấn đề thông tin. Ông chỉ rõ, đổi mới công tác thông tin là điều kiện quan trọng để đổi mới tư duy. Bởi có thông tin đúng mới có suy nghĩ đúng, không được nhận thông tin thì không có gì để suy nghĩ cả. Nếu nhận thông tin sai lệch thì tư duy không thể đúng. Ông nhấn mạnh, công khai, dân chủ trong thông tin là điều kiện phát triển tư duy khoa học, chống lại tình trạng cửa quyền trong tư duy, kịp thời phát hiện tình trạng trì trệ hoặc hư hỏng trong tư duy.

Vì vậy, sau Đại hội VI của Đảng, ông Đào Duy Tùng đã chỉ đạo quyết liệt công tác cải tiến hoạt động thông tin của Đảng. Theo ông, để đáp ứng yêu cầu cách mạng đang đặt ra, công tác thông tin cần được tiến hành cải tiến theo các hướng: đa dạng hóa thông tin và tăng lượng tin hữu ích; mở rộng tính công khai trong hoạt động thông tin; thông tin phải chân thực, góp phần xây dựng tư duy mới, khắc phục tư duy lạc hậu; đưa được tiếng nói của nhân dân tới những cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước các cấp; nâng cao tính phê bình, tự phê bình trên các phương tiện thông tin đại chúng, nêu nhân tố tích cực và cả nhân tố tiêu cực; đưa thông tin đến được đúng đối tượng, đến tận những người lao động.

Là nhà lãnh đạo tư tưởng, báo chí, tuyên truyền của Đảng, đồng chí Đào Duy Tùng nhiều lần khẳng định, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ vĩ đại của Đảng và nhân dân ta, Người còn là người thầy của báo chí cách mạng nước nhà. Ông khuyên nhủ những nhà báo cần đẩy mạnh việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, nhiệm vụ của báo chí cách mạng, về phương thức tác nghiệp để làm sao mỗi bài báo, người đọc dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo. Về vai trò của báo chí, Ông nhiều lần khẳng định: Đảng và Nhà nước luôn coi báo chí là một binh chủng rất quan trọng, không thể thiếu được của cách mạng và bất kỳ trong giai đoạn nào, báo chí cũng thể hiện rõ vai trò xung kích của mình trên mặt trận tư tưởng của Đảng. Đồng thời nêu rõ, trải qua các giai đoạn cách mạng, Đảng ta rất coi trọng báo chí và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà báo hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của mình. Báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể xã hội, đồng thời là diễn đàn của nhân dân. Báo chí cần phản ánh sinh động hơn nữa các phong trào cách mạng của mọi tầng lớp nhân dân hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Một trong những nội dung quan trọng của báo chí là cổ vũ phong trào toàn dân đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm; phát hiện và biểu dương kịp thời những sáng kiến hay, những việc làm tốt trong quá trình chuyển đổi cơ cấu và cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà, xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc và bồi dưỡng con người Việt Nam cả về trí lực và thể lực, về phẩm chất và trí tuệ.

Ông đề nghị báo chí tích cực tham gia tổng kết thực tiễn, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, góp phần cụ thể hóa, bổ sung, phát triển con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Đi đôi với việc biểu dương cái hay, cái tốt của chế độ mới, báo chí coi trọng việc phê phán cái ác, cái xấu, các tệ tham nhũng, quan liêu; phê phán những kẻ gieo rắc luận điểm hoài nghi, xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước… Báo chí không chỉ phản ánh hiện thực xã hội, mà còn có trách nhiệm định hướng đúng đắn dư luận xã hội trước mỗi sự kiện trong nước và quốc tế. Ông cũng đòi hỏi, cấp ủy đảng và chính quyền các cấp cần thấy rõ trách nhiệm của mình đối với báo chí, tăng cường trao đổi thông tin, mở rộng bàn bạc nhằm kịp thời bổ sung và hoàn thiện các chính sách về thông tin cũng như các chế độ đãi ngộ về vật chất và tinh thần đối với các nhà báo, tạo điều kiện cho cơ quan báo chí và các nhà báo thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, công hiến nhiều hơn nữa cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nhằm đáp ứng yêu cầu của cách mạng đang đặt ra, công tác thông tin – báo chí, theo Ông, cần được tiến hành cải tiến theo các hướng: Một là, đa dạng hóa thông tin và tăng lượng tin hữu ích; hai là, mở rộng tính công khai trong hoạt động thông tin; ba là, thông tin phải chân thực, góp phần xây dựng tư duy mới, khắc phục tư duy lạc hậu; bốn là, đưa được tiếng nói của nhân dân tới những cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước các cấp; năm là, nâng cao tính phê bình, tự phê bình trên các phương tiện thông tin đại chúng, nêu nhân tố tích cực và cả nhân tố tiêu cực; sáu là, thông tin đến được đúng đối tượng, đến tận những người lao động.

Với tư cách người trực tiếp lãnh đạo cơ quan báo chí, đồng chí Đào Duy Tùng có 17 năm (1965 - 1982) trực tiếp làm Tổng Biên tập Tạp chí Học tập, nay là Tạp chí Cộng sản - Cơ quan lý luận và chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Với một thời gian dài trực tiếp lãnh đạo Tạp chí Học tập, đồng chí Đào Duy Tùng đã góp phần quyết định đưa tạp chí lý luận của Đảng có những bước phát triển vượt bậc và toàn diện. Về phương diện lý luận, Ông yêu cầu mỗi cán bộ biên tập tạp chí lý luận và chính trị của Đảng không thể chỉ nắm vững những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mà còn phải biết vận dụng các nguyên lý đó; không những phải nắm vững đường lối, chính sách, quan điểm của Đảng, mà còn phải hiểu rõ cơ sở lý luận, cơ sở khoa học của đường lối, chính sách, quan điểm. Có thế, khi viết hoặc biên tập bài mới có sự sáng tạo, tránh được lối viết sách vở làm cho người đọc nhàm chán. Kết hợp chặt chẽ lý luận với thực tế; ủng hộ cái mới; ủng hộ lớp cán bộ trẻ năng động, sáng tạo. Những yêu cầu mà đồng chí chỉ ra, cho đến nay vẫn giữ nguyên giá trị.

2. Trong lĩnh vực văn hóa – văn nghệ

Trong quá trình Bộ Chính trị khóa X chuẩn bị ra Nghị quyết chuyên đề về văn học, nghệ thuật, tôi tìm đọc những bài viết của ông về vấn đề này. Có thể nói, khá nhiều quan điểm và sự đánh giá của ông đã được Nghị quyết 23 về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới” kế thừa và phát triển lên tầm mới. Đọc lại bài phát biểu của đồng chí Đào Duy Tùng tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI, tôi thật sự kính phục vì nhiều đánh giá của ông vẫn còn giá trị thời sự. Ví như, từ thực trạng rất đa dạng, phức tạp của tình hình tư tưởng nói chung, văn nghệ nói riêng lúc bấy giờ, ông vẫn khẳng định: Văn học, nghệ thuật nước ta “có bước phát triển mới, có khởi sắc” với mấy biểu hiện nổi rõ: trong sáng tác các loại hình văn nghệ, “đã bắt đầu xuất hiện một số tác phẩm tốt”; “trong lý luận, phê bình, có không ít thảo luận, tranh luận”. Nhưng đi liền những biểu hiện quan trọng, đáng mừng đó, ông cũng thẳng thắn chỉ ra “những thiếu sót, lệch lạc không thể coi nhẹ”. Ví như, về quan điểm “có tư tưởng phủ nhận những thành tựu văn học giai đoạn trước, cho rằng văn học giai đoạn trước là văn học minh họa, văn học cung đình, văn học quan phương, văn học không đích thực...”. Văn học, nghệ thuật tham gia chống tiêu cực là cần thiết, nhưng “một số bài viết, phim ảnh, vở kịch... mô tả mặt tiêu cực quá mức, không hướng theo tinh thần xây dựng đã gợi ra tâm trạng bi quan, bế tắc”; “khuynh hướng giải trí không lành mạnh, chạy theo lợi nhuận, chạy theo thị hiếu tầm thường... gây hậu quả rất nghiêm trọng”. Về tổ chức, ông chỉ rõ, “tình hình mất đoàn kết trong giới văn học, nghệ thuật là vấn đề không thể coi nhẹ”. Thiết nghĩ, trong quá trình thực hiện Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị, chúng ta đã cố gắng khắc phục những biểu hiện tiêu cực nói trên, nhưng nghiêm túc nhìn nhận, nếu không có biện pháp chỉ đạo và quản lý mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn, hiệu quả hơn của cấp ủy đảng và chính quyền các cấp cùng các cơ quan chức năng; của tổ chức hội từ trung ương đến địa phương; nếu trách nhiệm người nghệ sĩ - chiến sĩ không được tiếp tục đề cao thì Nghị quyết khó đi vào cuộc sống; theo đó, những thiếu sót, khuyết điểm của giai đoạn trước vẫn lặp lại, làm suy giảm niềm tin của văn nghệ sĩ và công chúng yêu văn học, nghệ thuật. Trong nhiều biện pháp được đề cập nhằm khắc phục những thiếu sót, lệch lạc nói trên, với tư duy biện chứng và nắm chắc bản chất tình hình tư tưởng - văn hóa, văn nghệ, Ông nhấn mạnh mấy giải pháp cơ bản mà đến nay chúng ta vẫn tiếp tục triển khai. Đó là: Đảm bảo quyền thu nhận thông tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân; mở rộng dân chủ trong công tác tư tưởng, thực hiện tính công khai trong thông tin, đảm bảo điều kiện để cán bộ, đảng viên và người dân tự do phát biểu ý kiến của mình qua báo, đài; qua các cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học v.v… Tôi thấm thía điều Ông nhấn mạnh: “Phải mở rộng dân chủ, nhưng dân chủ phải đi đôi với pháp luật, tôn trọng pháp luật. Quá trình mở rộng dân chủ vừa phải đấu tranh với những hành động vi phạm quyền dân chủ của nhân dân, vừa phải đấu tranh với những khuynh hướng dân chủ cực đoan, dân chủ tư sản, và không để cho kẻ xấu, kẻ địch lợi dụng để chống chế độ ta”.

Phải chăng hôm nay chúng ta đang làm theo những gợi mở nêu trên của Ông, nhằm tạo ra bước phát triển tích cực trong các hoạt động tư tưởng - văn hóa, văn nghệ, đáp ứng yêu cầu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển?

3. Nhà lý luận kết hợp nhuần nhuyn giữa lý luận và thực tiễn

Tôi chưa có điều kiện đọc hết và nghiên cứu sâu những bài viết, bài nói của Ông trong cả bề dày công tác, nhưng có một câu chuyện thực tiễn làm tôi cảm phục tư duy và phương pháp luận khoa học của Ông. Đó là vào năm 1979-1981, tôi được dự lớp đào tạo lý luận cao cấp, hệ tập trung hai năm tại Học viện Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh). Đầu năm 1981, dưới sự chỉ đạo của Phó Giám đốc Thường trực Học viện Nguyễn Đức Bình, lớp B10 chúng tôi gồm 127 học viên đi thực tế một tháng ở hợp tác xã Đoàn Xá (Hải Phòng) để nghiên cứu, đánh giá về “khoán chui”. Sau đó, Học viện tổ chức hội thảo về vấn đề này. Cuộc Hội thảo diễn ra rất sôi nổi, có những ý kiến tranh luận “nảy lửa”, người ủng hộ khoán cũng nhiều, người phê phán cũng lắm; thậm chí có ý kiến cho rằng, nếu ủng hộ là “đi chệch quỹ đạo xã hội chủ nghĩa, phá nát hợp tác xã, làm trái chủ trương, đường lối của Đảng”. Kết quả một ngày hội thảo, tỉ lệ ủng hộ/ phản đối khoán là 50/50. Điều quan trọng là, ngay một số ý kiến ủng hộ cũng tỏ ra còn không ít băn khoăn. Những năm tiếp sau, qua thực tiễn và sự đầu tư nghiên cứu, tổng kết thực tiễn của Trung ương Đảng và Bộ Chính trị về quá trình thực hiện khoán sản phẩm trong nông nghiệp, đã khẳng định sự cần thiết phải ủng hộ và triển khai nghị quyết “Khoán 10” trong phạm vi rộng rãi. Tôi chăm chú đọc bài tổng kết của đồng chí Đào Duy Tùng tại Hội nghị Trưởng ban nông nghiệp toàn quốc tổ chức ở Hải Phòng từ ngày 23 đến 26/12/1984.

Bài viết chỉ có 7 trang, nhưng với tôi và những người làm báo có tác dụng thiết thực trong công tác thông tin báo chí. Tôi xin tóm lược mấy điểm cơ bản trong bài tổng kết này. Về những điểm mới, tích cực trong phát triển nông nghiệp ba năm qua (1980-1983), Ông chỉ ra 3 điểm: đã kết hợp tốt lao động với đất đai nên đã tạo ra bước phát triển nhiều mặt, nổi rõ là thâm canh lúa; xóa bỏ được một khâu của cơ chế quản lý cũ trong hợp tác xã nông nghiệp vốn nhiều năm kìm hãm tính tích cực của xã viên; khắc phục được tình trạng khá nghiêm trọng kéo dài, khôi phục được tính tích cực lao động và lòng tin của người lao động... Cùng với 3 điểm được nêu trên, Ông lưu ý: Nhiều tiềm năng lao động chưa được khai thác, trên một số mặt, trận địa xã hội chủ nghĩa bị xâm lấn, thậm chí có chỗ giảm sút...

Từ nghiên cứu thực tế “khoán” trong nông nghiệp, Ông lần lượt giải đáp thắc mắc, băn khoăn có phần “hóc búa”: Khoán có thu nhỏ kinh tế tập thể; có làm tan rã chăn nuôi; có phá vỡ cơ sở vật chất kĩ thuật và tâm lý tư hữu có phát triển không?... Tôi được biết, để có bài tổng kết này, ông đã nhiều lần xuống các hợp tác xã ở Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hải Hưng..., trực tiếp nghe và đối thoại với cán bộ, xã viên để tìm ra đâu là mặt thuận cơ bản, vấn đề nào còn vướng mắc. Ông thường nhắc cán bộ tư tưởng cần thấm sâu lời của Goethe: “Mọi lý thuyết đều là màu xám, chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi”. Theo phương châm đó, những lời giải đáp của Ông đầy sức thuyết phục vì sáng rõ tính khoa học và tính thực tiễn. Điều đặc biệt là, đọc các bài viết của Ông, tôi thấy Ông rất ít trích lời Các Mác, Ăng-ghen, Lênin..., nhưng không vì thế mà những luận điểm ông nêu ra thoát ly những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, chính vì trong mỗi bài viết, Ông đã thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn.

Một số anh chị em ở lớp B10 ngày ấy, khi đọc bài tổng kết này đều chung suy nghĩ: Sự tranh cãi tại cuộc hội thảo về khoán năm 1981 với kết quả không đi tới một kết luận ủng hộ hay phản đối khoán, suy cho cùng là tư duy và phương pháp luận khoa học của chúng tôi ngày đó còn hạn chế; sự vận dụng lý luận để lý giải thực tiễn còn lúng túng, bất cập, do vậy, đã không cắt nghĩa rành rọt được thực trạng cũng như nguyên nhân; và vì vậy, không đưa ra được câu trả lời căn cốt: có nên hay không nên ủng hộ việc khoán sản phẩm trong nông nghiệp?

Đã tròn 26 năm, nhà tư tưởng, nhà lý luận, nhà báo Đào Duy Tùng Vĩnh biệt chúng ta. Độ lùi thời gian càng xa, càng ngời lên những đóng góp quan trọng và quý báu của Ông trên mặt trận tư tưởng, lý luận của Đảng. Đối với những người làm báo chúng tôi, những luận điểm của Ông về nội dung và phương thức hoạt động trong các lĩnh vực thông tin - báo chí, văn hóa - văn nghệ vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Cùng với phong cách điềm tĩnh, hòa đồng, lối sống giản dị, liêm khiết; ý thức quan tâm đào tạo, bồi dưỡng lớp trẻ cho đời sau, Ông đã thật sự là tấm gương sáng để các thế hệ tiếp sau học tập, làm theo, tạo nên những thành tựu mới trong kỷ nguyên “số hóa”, chuẩn bị kỷ niệm thiết thực 100 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (1925-2025)./.

 

PTS.TS. Nguyễn Hồng Vinh, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tổng Biên tập Báo Nhân Dân

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Ý kiến bình luận
Họ và tên
Email
Lời bình

/

Xác thực