Kho mộc bản được lưu giữ ở chùa Vĩnh Nghiêm, làng Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang đây là bộ sưu tập mộc bản của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử một Thiền phái tiêu biểu của Phật giáo Việt Nam. Nội dung chính của kho mộc bản là các bộ kinh, sách, luật giới nhà Phật và trước tác của một số danh nhân, thiền sư đã sáng lập, chấn hưng, phát triển trung tâm Phật giáo Vĩnh Nghiêm trong nhiều thế kỷ và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển về văn hóa, xã hội trong lịch sử Việt Nam như: Trần Nhân Tông, Pháp Loa Đồng Kim Cương, Huyền Quang Lý Đạo Tái,...

Kho mộc bản có 3.050 tấm ván rời, với 9 đầu kinh, sách chính được san khắc trong những khoảng thời gian khác nhau gồm: Thần du Tây phương, Tây Phương mĩ nhân truyện (năm Tự Đức thứ 26-1873), Tỳ khâu ni giới (năm Tự Đức 34-1881), Sa di ni giới lãnh (năm Tự Đức 34-1881), Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm kinh (năm Tự Đức 37-1884), Kính tín lục (năm Tự Đức 39-1886), Thiền tông bản hạnh (năm Bảo Đại 7-1932), Đại thừa chỉ quản (năm Bảo Đại 10-1935), Di Đà kinh. Trong đó Thần du Tây phương ký và Tây phương mĩ nhân truyện là sách nói về nguồn gốc của đạo Phật Ấn Độ.

Tất cả các tăng ni, phật tử theo dòng Đại thừa ở Việt Nam cũng như ở ngoài nước đều sử dụng các bộ kinh, luật, sách trên để tu trì hành đạo. Mộc bản là di sản văn hóa quý giá của Phật giáo Đại thừa trên toàn thế giới nói chung và Thiền phái Trúc Lâm của Việt Nam nói riêng.

Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm phản ánh tư tưởng Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử vào thế kỷ thứ XIII thể hiện sâu sắc tinh thần tự lực và tùy duyên, xem Phật chính là bản thân mình, tự tin vào bản thân, không tin vào các thế lực thần bí, lạc quan với cuộc sống thực, thuận theo tự nhiên.

leftcenterrightdel
Chùa Vĩnh Nghiêm tại xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
leftcenterrightdel
 Mộc bản được chế tác khoảng từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, nhưng phần lớn được san khác trong những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
leftcenterrightdel
Trong kho Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, văn tự trên mỗi bản mộc cho thấy quá trình phát triển của hệ thống văn tự Việt Nam chuyển từ sử dụng chữ Hán của Trung Quốc sang coi trọng sử dụng chữ Nôm của Việt Nam.
leftcenterrightdel
 Những bản mộc thư niên đại 700 năm, có kích thước không đồng đều, tùy theo từng bộ kinh/sách có kích thước khác nhau.
leftcenterrightdel
 Bản khắc lớn nhất là loại sớ, điệp chiều dài hơn 100 cm, rộng 40-50cm, bản nhỏ nhất khoảng 15 - 20cm, phần lớn mộc bản bộ Kinh Hoa Nghiêm (hơn 2800 mảnh) có kích cỡ 33cm - 23cm - 2,5cm. Trong ảnh: Một mộc bản trong bộ Hoa nghiêm kinh.
leftcenterrightdel
 Một số ván in có những hoa văn, hình chạm khắc đặc biệt thể hiện triết lý Phật giáo. Mỗi bản có hai mặt, mỗi mặt 2 trang sách khắc ngược (âm bản).
leftcenterrightdel
 Nội dung của mộc bản ở chùa Vĩnh Nghiêm có ý nghĩa lớn đối với xã hội Việt Nam trên nhiều phương diện như: Lịch sử, triết học, y học, giáo dục, ngôn ngữ, nghê thuật.
leftcenterrightdel
 Tập Nhật trình Yên Tử nói về sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm và phương pháp tu thiền tâm của thiền phái này.
leftcenterrightdel
 Một mộc bản trong bộ mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm.
leftcenterrightdel
Mẫu chữ Nôm trong tác phẩm Thiền Tông Bản Hạnh được Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm (The Vietnamese Nom Preservation Foundation, USA) lấy làm mẫu chữ cho font chữ Nôm trên mã Unicode (ký hiệu NomNaTongLight,ttf) và được cài đặt vào máy tính trên toàn thế giới.
leftcenterrightdel
 Ngoài giá trị về Phật pháp, Mộc bản còn có giá trị về văn học và nghệ thuật. Vì vậy, trải qua bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, giờ đây kho "Mộc thư khố" này là một bảo vật vô giá của Quốc gia.

 

 

 

 

 

Phương Bá